Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

Giám sát nợ: những câu hỏi bỏ ngỏ

Giám sát nợ: những câu hỏi bỏ ngỏ

SGTT.VN - Đến thời điểm này, vẫn còn những câu hỏi bỏ ngỏ quanh nội dung thông tư 56/2011/TT-BTC của bộ Tài chính mới ban hành, có hiệu lực từ 1.8.2011, về việc hướng dẫn phương pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát và tổ chức hoạt động giám sát nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia.
Điều 11 của dự thảo thông tư này (được đưa ra để lấy ý kiến đóng góp trên website của bộ Tài chính) liên quan đến việc xác định hạn mức vay nợ nước ngoài đã không còn được thể hiện trong bản chính thức được ban hành. Trong khi, đây vốn là điểm rất quan trọng và thể hiện sự minh bạch của cơ chế điều hành và quản lý nợ công.
Theo điều 11 của dự thảo, phương pháp xác định hạn mức vay nước ngoài gồm ba bước: xác định tỷ lệ vay nước ngoài so với GDP của năm kế hoạch; tổng dư nợ nước ngoài đến cuối năm kế hoạch; và tổng mức vay hay còn gọi là hạn mức vay năm kế hoạch.

Với tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn năm năm tới vào khoảng 7 – 7,5% theo như các công bố gần đây của lãnh đạo bộ Kế hoạch và đầu tư, và lãi suất bình quân gia quyền các khoản vay nước ngoài hiện vào khoảng 3%, ước tính mỗi năm tỷ lệ vay nước ngoài so với GDP sẽ tăng khoảng 2% và đến cuối năm 2015 sẽ chạm mức 50% GDP. Đây cũng là mức trần khống chế theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Áp vào tiêu chí đánh giá nợ nước ngoài của ngân hàng Thế giới thì chỉ tiêu trên thuộc vào mức “trầm trọng”.

Với kịch bản này, vấn đề cần đặt ra tiếp theo là liệu có phải cơ quan quản lý đang muốn hợp pháp hoá mức tăng nợ nước ngoài vốn đang trong xu hướng đi lên rất nhanh? Các con số đáng lưu ý là nợ công so với GDP đã tăng từ 36% năm 2001 lên 56,7% vào năm 2010; nợ nước ngoài từ 2007 đến cuối năm 2009 đã tăng thêm gần 7%, lên mức 39% GDP. Thứ đến, tỷ lệ vay nước ngoài so với GDP thời gian tới có đáng lo ngại không với cách xác định và điều hành quy định tại thông tư này? Hơn nữa, có còn cơ chế nào để ràng buộc các cơ quan quản lý, giám sát và điều hành nợ nước ngoài giữ mức rủi ro nợ chấp nhận được và họ có động lực làm việc này không? Cuối cùng, tính ổn định của nợ, rủi ro nợ sẽ thế nào với cách thức xác định hạn mức nợ này, đặc biệt là sau năm 2015?
Một điểm đáng chú ý khác, dù dự thảo không tồn tại nhưng thông tư vừa được ban hành, trong điều 11 về tổ chức điều hành hạn mức vay nước ngoài lại xuất hiện nội dung quy định các doanh nghiệp phải gửi đăng ký nhu cầu vay vốn nước ngoài cho năm sau trước thời hạn 31.12 cho bộ Tài chính (đối với các khoản vay đề xuất có bảo lãnh của Chính phủ) và cho ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đối với các khoản vay không có bảo lãnh của Chính phủ). Câu hỏi đặt ra là liệu quy định này có làm nảy sinh cơ chế xin – cho? Tiêu chí nào được chọn là ưu tiên khi phê duyệt kế hoạch vay nước ngoài của doanh nghiệp: số dư nợ dự kiến, điều kiện vay, hay khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi…? Trong khi đó, tham chiếu nghị định 79/2010/NĐ-CP (mà thông tư 56 này là văn bản hướng dẫn) về nghiệp vụ quản lý nợ công thì không thấy nhắc đến việc doanh nghiệp phải gửi đăng ký, hay trình dự án và kế hoạch vay, trả nợ.
Vũ Anh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét