Thứ Năm, 13 tháng 10, 2011

TP.HCM QUẢN LÝ ĐÔ THỊ YẾU KÉM

TP.HCM QUẢN LÝ ĐÔ THỊ YẾU KÉM

Đô thị vệ tinh trên giấy, cao ốc lấp đầy trung tâm


SGTT.VN - Bốn khu đô thị vệ tinh của TP.HCM được quy hoạch cách đây gần mười năm, với mục đích giãn dân, là một trong những giải pháp lý tưởng cho việc giảm tải khu vực nội thành. Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, đến nay, hầu hết những khu đô thị này vẫn chưa ló dạng. Trong khi đó, ở khu vực trung tâm, những toà nhà cao tầng vẫn đua nhau mọc lên. Sự tréo ngoe này khiến người ta nghi ngờ những giải pháp giảm ùn tắc giao thông gần đây chỉ là giải pháp tình thế.
Độ nén đến nghẹt thở


Chỉ có hơn 5.000m2, nằm lọt thỏm trong khu vực vốn đã đông đúc ở trung tâm quận 1, nhưng cao ốc Bitexco được xây cao đến 68 tầng. Theo quảng cáo, toà nhà sẽ cung ứng cho thị trường trên 38.000m2 diện tích văn phòng hạng A+ theo tiêu chuẩn quốc tế và trên 8.000m2 diện tích của sáu tầng dành cho khu trung tâm thương mại, đáp ứng nhu cầu làm việc của gần 10.000 người trong toà nhà.
Thử hình dung, một khi toà nhà này được khai thác hết công năng thì đường sá, không gian nào đủ cho số lượng người như vậy ra vào toà nhà này hàng ngày? Có người nói đùa, Bitexco cần làm cầu vượt nối toà cao ốc này ra sông Sài Gòn để những người làm việc ở đây đi bằng đường sông, tránh bị kẹt ở khu trung tâm.
Trong khi đó, theo nghiên cứu của công ty Savill Việt Nam về thị trường căn hộ tại TP.HCM cho thấy, chỉ trong quý 3/2011, tại khu vực nội thành TP.HCM có khoảng 60 dự án căn hộ dịch vụ, cung cấp 3.200 căn, tăng 2% so với quý trước và 9% so với cùng kỳ năm trước. Quận 1 chiếm thị phần cao nhất về số căn hộ với 48% tổng nguồn cung do có vị trí tốt nhất trong thành phố. Nếu nhân lên cho mấy năm nay thì con số về căn hộ ra đời tại khu vực trung tâm là hàng chục ngàn. Và theo dự báo của công ty tư vấn bất động sản Knight Frank, trong thời gian tới, quận 1 tiếp tục là quận dẫn đầu về nguồn cung căn hộ dịch vụ.
Theo thống kê của sở Xây dựng TP.HCM, từ năm 2008 đến nay có khoảng 130 dự án cao ốc được cấp phép, trong đó có đến hơn 70 dự án nằm ở lõi khu vực trung tâm.

Dự án tiếp nối dự án

Đường Nguyễn Đình Chiểu vốn là đường nhỏ hẹp, xe cộ hiện nay chỉ cho chạy một chiều. Tuy nhiên, một dự án mang tên cao ốc C.T Plaza với chiều cao 24 tầng sẽ xuất hiện trong nay mai. Theo giới thiệu, cao ốc này chủ yếu dành làm trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê cộng thêm 200 căn hộ cao cấp… Người ta không hình dung nổi đường Nguyễn Đình Chiểu sẽ ra sao khi cả ngàn người đổ dồn về đây cùng lúc?

Trung tâm Phát triển quỹ đất TP.HCM đã trình UBND thành phố danh sách 60 khu đất vàng dự kiến đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất trong thời gian tới. Đa phần là các dự án xây dựng khách sạn, khu trung tâm thương mại và căn hộ… Theo nhiều chuyên gia dự báo, nếu tất cả các khu đất này có chủ đầu tư thì chỉ nay mai, lượng người và xe di chuyển vào trung tâm thành phố sẽ càng trở nên đông đáng sợ.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, hầu hết các dự án chỉnh trang cải tạo những khu nhà ở thấp tầng thành cao tầng đều được các chủ đầu tư chuyển đổi mục đích sử dụng thành khu thương mại, dịch vụ, văn phòng. Do vậy, số người làm việc tại khu vực này ngày càng tăng cao.
Quan điểm của ông Nguyễn Trọng Hoà, viện trưởng viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM là: việc xây dựng các cao ốc là một hệ quả tất yếu của một quá trình phát triển đô thị. Ví như, muốn hết ngập, chúng ta phải chịu cực khổ, chịu bực mình về đào đường. Muốn có một đô thị lớn, một trung tâm kinh tế văn hoá thì phải có những cao ốc mọc lên. Quan trọng là chúng ta phải biết chịu cực trước mắt để nhìn về cái lâu dài. Trong thời gian qua, nếu các sở ngành không cho xây dựng nhà cao tầng ở những vị trí lõi trung tâm thì chúng ta cấp phép cho xây ở đâu? Khu đô thị mới Thủ Thiêm thì chưa hoàn thành, các khu đô thị vệ tinh khác thì mới hình thành trên giấy.
Theo ông Hoà, nói như vậy, không có nghĩa là cứ phát triển xây dựng nhà cao tầng tràn lan cũng là một đô thị. Quan trọng là xây dựng nhà cao tầng thường gắn liền với hệ thống giao thông. Trong bản thiết kế quy hoạch khu vực trung tâm 930ha thì yếu tố nhà cao tầng với đường giao thông đô thị được phối hợp một cách hài hoà. Cụ thể như, khi xây dựng một tuyến đường sắt đô thị thì sẽ có bao nhiêu nhà cao tầng mọc lên ở tuyến đường đó, khi xây dựng hai tuyến thì thêm bao nhiêu toà nhà nữa… TP.HCM cũng đang từng bước thực hiện theo quy hoạch này. Nhưng để nên hình, nên dạng thì phải chờ đợi thời gian, chờ đợi vốn để đầu tư, chờ hoàn thiện cơ chế chính sách…
Đứng về góc cạnh của một kiến trúc sư, ông Nguyễn Trường Lưu, phó chủ tịch hội Kiến trúc sư TP.HCM cũng cho rằng, trong trung tâm của một đô thị, việc tập trung xây dựng các cao ốc với các chức năng khác nhau, như cao ốc văn phòng, khách sạn, nhà ở, dịch vụ thương mại… với độ nén về mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất cao là điều tất yếu của một đô thị hiện đại. Tuy nhiên, sự nén và đậm đặc các công trình cao ốc ở đây, bao giờ cũng được nghiên cứu đồng bộ với hệ thống kỹ thuật hạ tầng. Các công trình xây dựng đều được nghiên cứu tiếp cận với hệ thống giao thông công cộng như hệ thống xe buýt, tàu điện ngầm… để tiện lợi cho người dân. Còn tại các đô thị của nước ta, tuy tập trung xây dựng các cao ốc nhưng vẫn sử dụng hệ thống giao thông hiện hữu của thành phố, là không hợp lý, và tắc đường, kẹt xe là điều tất yếu.

Theo ông Lưu, đến nay, hệ thống quy hoạch chung về giao thông của thành phố chưa được nghiên cứu để phát triển đồng bộ.
Theo quy hoạch, TP.HCM đến năm 2025 sẽ phát triển theo hướng đa tâm với trung tâm tổng hợp tại khu vực nội thành cũ và các khu đô thị vệ tinh theo bốn hướng: bắc, đông, tây, nam.
 Khu đô thị Bắc TP.HCM: nằm gọn trên địa bàn hai huyện Củ Chi và Hóc Môn, sát trục giao thông mang tính chiến lược là quốc lộ 22 kết nối TP.HCM – Tây Ninh, giáp Long An; cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km. Giai đoạn 1 của khu đô thị Tây Bắc được quy hoạch với diện tích khoảng 6.000ha, dự kiến mở rộng lên khoảng 9.000ha ở giai đoạn 2. Đây sẽ là một trung tâm thương mại, y tế, thể dục, thể thao… cấp thành phố, với 11 phân khu chức năng như khu trung tâm công cộng, khu thương mại, dịch vụ, y tế, công nghiệp, kho bãi trung chuyển…
 Khu đô thị Đông TP.HCM: hạt nhân là khu công nghệ cao với quy mô 872ha, khu đại học Quốc gia có quy mô 800ha, công viên Văn hoá lịch sử dân tộc quy mô 395ha… Những cụm khu đô thị này khi nhìn tổng thể sẽ tạo thành khu đô thị khoa học – công nghệ ở Thủ Đức và quận 9.
 Khu đô thị Nam TP.HCM: trọng tâm là khu đô thị Nam Sài Gòn (quận 7) và khu đô thị cảng Hiệp Phước. Khu đô thị Nam Sài Gòn bao gồm quận 7 (phường Tân Phong, Tân Phú với diện tích 868ha); nam quận 8 (một phần phường 7 với diện tích 268ha); nam huyện Bình Chánh (xã An Phú Tây, Phong Phú, Bình Hưng, Hưng Long với diện tích 1.839ha). Quy mô diện tích điều chỉnh là 2.975ha tổng diện tích tự nhiên (tổng diện tích phê duyệt trước đây chỉ 2.612ha). Khu đô thị cảng Hiệp Phước, huyện Nhà Bè với diện tích 3.900ha, dự kiến dân số 180.000 người (năm 2020).
Khu đô thị Tây TP.HCM: nằm gọn tại huyện Bình Chánh có diện tích khoảng 500ha. Ở khu đô thị này sẽ phát triển những cụm nhà ở, trung tâm thương mại quy mô lớn nhằm thay đổi bộ mặt đô thị tại phía tây TP.HCM.

Dự án quy hoạch bốn khu đô thị vệ tinh của TP.HCM
TP.HCM đến năm 2025 sẽ phát triển theo hướng đa tâm cùng các khu đô thị vệ tinh theo bốn hướng: bắc, đông, tây, nam. Ảnh: TL
Theo quy hoạch, TP.HCM đến năm 2025 sẽ phát triển theo hướng đa tâm với trung tâm tổng hợp tại khu vực nội thành cũ và các khu đô thị vệ tinh theo bốn hướng: bắc, đông, tây, nam.
 Khu đô thị Bắc TP.HCM: nằm gọn trên địa bàn hai huyện Củ Chi và Hóc Môn, sát trục giao thông mang tính chiến lược là quốc lộ 22 kết nối TP.HCM – Tây Ninh, giáp Long An; cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km. Giai đoạn 1 của khu đô thị Tây Bắc được quy hoạch với diện tích khoảng 6.000ha, dự kiến mở rộng lên khoảng 9.000ha ở giai đoạn 2. Đây sẽ là một trung tâm thương mại, y tế, thể dục, thể thao… cấp thành phố, với 11 phân khu chức năng như khu trung tâm công cộng, khu thương mại, dịch vụ, y tế, công nghiệp, kho bãi trung chuyển…
 Khu đô thị Đông TP.HCM: hạt nhân là khu công nghệ cao với quy mô 872ha, khu đại học Quốc gia có quy mô 800ha, công viên Văn hoá lịch sử dân tộc quy mô 395ha… Những cụm khu đô thị này khi nhìn tổng thể sẽ tạo thành khu đô thị khoa học – công nghệ ở Thủ Đức và quận 9.
 Khu đô thị Nam TP.HCM: trọng tâm là khu đô thị Nam Sài Gòn (quận 7) và khu đô thị cảng Hiệp Phước. Khu đô thị Nam Sài Gòn bao gồm quận 7 (phường Tân Phong, Tân Phú với diện tích 868ha); nam quận 8 (một phần phường 7 với diện tích 268ha); nam huyện Bình Chánh (xã An Phú Tây, Phong Phú, Bình Hưng, Hưng Long với diện tích 1.839ha). Quy mô diện tích điều chỉnh là 2.975ha tổng diện tích tự nhiên (tổng diện tích phê duyệt trước đây chỉ 2.612ha). Khu đô thị cảng Hiệp Phước, huyện Nhà Bè với diện tích 3.900ha, dự kiến dân số 180.000 người (năm 2020).
Khu đô thị Tây TP.HCM: nằm gọn tại huyện Bình Chánh có diện tích khoảng 500ha. Ở khu đô thị này sẽ phát triển những cụm nhà ở, trung tâm thương mại quy mô lớn nhằm thay đổi bộ mặt đô thị tại phía tây TP.HCM.
Vũ Nguyên

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Chậm tiến độ, Bộ trưởng thay ngay tổng chỉ huy công trình

Chậm tiến độ, Bộ trưởng thay ngay tổng chỉ huy công trình

Ngày 4-10, sau khi thị sát thực trạng xây dựng công trình nhà ga hành khách sân bay quốc tế Đà Nẵng, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã thay ngay tổng chỉ huy công trình.
TIN BÀI KHÁC

 
Nhà ga hành khách sân bay Đà Nẵng được khởi công xây dựng từ tháng 12-2007 với tổng vốn hơn 1.345 tỉ đồng từ ngân sách và vốn vay, do Tổng Công ty Cảng HK miền Trung làm chủ đầu tư. Công trình đủ tiêu chuẩn phục vụ 4 triệu khách/năm.
“Các ông đùa à?”
Theo kế hoạch, lẽ ra nhà ga phải đưa vào khai thác từ quý I-2010 nhưng việc thi công hết sức ì ạch khiến dự án chậm tiến độ gần hai năm. Mới đây Thứ trưởng Bộ GTVT Ngô Thịnh Đức đã có văn yêu cầu chủ đầu tư, ban quản lý (BQL) dự án phải có giải pháp cụ thể, quyết liệt thi công hoàn thành trước 31-12-2011. Chậm nhất ngày 20-9, tất cả các nhà thầu chính, thầu phụ phải lập lại được bản tiến độ chi tiết, tiến độ tổng thể, chốt được thời gian hoàn thành từng nội dung công việc…

Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng: “Phải thay ngay tổng chỉ huy dự án!”.
Tuy nhiên, sáng 4-10, khi Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng vào thị sát thì đâu vẫn hoàn đấy. Ông Hoàng Thành, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Cảng HK miền Trung, báo cáo trên công trường có 350 công nhân đang thi công. Trong khi Tư vấn trưởng giám sát John Richrd Malig nói rõ chỉ có 250 công nhân. Khi được yêu cầu tăng cường nhân lực thì các nhà thầu biện bạch phải đưa từ Hà Nội vào mới đáp ứng được khâu hoàn thiện. Ông Đinh La Thăng bác ngay: “Các ông đùa à? Thợ Đà Nẵng nổi tiếng về khâu hoàn thiện, ở Hà Nội còn mời họ ra, làm gì phải đưa từ Hà Nội vào. Vấn đề là ông trả tiền không thỏa đáng nên người ta không làm thôi!”.
Ông John Richrd Malig còn cho biết nhà thầu báo cáo đã đạt tiến độ 97% song đó là hoàn thành chứ chưa phải là hoàn thiện, vì còn rất nhiều khiếm khuyết cần phải sửa chữa. Tư vấn cũng rất nhiều lần yêu cầu các nhà thầu trình bản tiến độ theo yêu cầu của Bộ GTVT nhưng họ vẫn không thực hiện.
“Rất khó hoàn thành dự án vào cuối năm 2011 bởi tư duy chậm trễ dường như ăn sâu vào các nhà thầu. Tuy vậy vẫn không có sự thay đổi những người điều hành của các nhà thầu... Chúng tôi rất thất vọng vì các nhà thầu chưa có nỗ lực nào vượt bậc!” - ông John Richrd Malig nói.

Thay ngay trưởng ban quản lý dự án
Bộ trưởng GTVT hỏi: “Đấu thầu theo tiêu chí gì mà nhà thầu yếu như thế? Hai nhà thầu chính trong nước thì Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại VN (Contrexim) yếu cả năng lực, kinh nghiệm lẫn tài chính. Công ty Xây dựng Công nghiệp số 4 (thuộc Tổng Công ty Xây dựng Công nghiệp VN - ICIC) cũng không phải đơn vị mạnh, làm gì chẳng chậm tiến độ.”. Cả hai giám đốc của hai công ty này đều “trốn” khi Bộ trưởng yêu cầu vào họp kiểm tra tiến độ thi công. Thậm chí gọi điện thoại cho ông Phan Minh Tuấn, Giám đốc Contrexim, song ông này không nghe máy!

Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng gọi điện thoại ngay từ công trường, yêu cầu Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cảng HK miền Nam Nguyễn Nguyên Hùng đưa ngay Phó Tổng Giám đốc Đỗ Tất Bình ra làm tổng chỉ huy dự án nhà ga hành khách sân bay quốc tế Đà Nẵng.
Ông Đinh La Thăng nhận định để xảy ra tình trạng trên trách nhiệm trước hết thuộc về chủ đầu tư và BQL dự án. Sự điều hành lẫn tổ chức công trường là “có vấn đề”. Chưa nói đâu xa, khi đoàn công tác vào thị sát thì công nhân tụm năm, tụm bảy nhìn ngó và không làm việc. Việc chỉ huy kết nối các gói thầu hết sức lỏng lẻo, công việc giao không rõ ràng nên công nhân không có việc để làm và… không biết làm việc. BQL dự án và Tổng Công ty Cảng HK miền Trung phải kiểm điểm vì để xảy ra tình trạng trì trệ mà không có biện pháp xử lý. Chủ đầu tư nắm đằng chuôi, giữ tiền nhưng tiến độ chậm hàng năm trời mà không phạt, cứ vui vẻ là không chấp nhận được.
Ông lập tức gọi điện thoại cho Tổng Giám đốc Tổng Công ty HK miền Nam Nguyễn Nguyên Hùng, yêu cầu ngay trong trưa 4-10 điều động một cán bộ có năng lực, từng tham gia điều hành thành công dự án xây dựng nhà ga hành khách sân bay Cần Thơ ra tăng cường cho sân bay Đà Nẵng. Đồng thời, mời đại diện Công ty Hòa Bình (một đơn vị tư nhân nhưng thi công rất tốt công trình nhà ga sân bay Cần Thơ) cùng ra để sẵn sàng thay thế nhà thầu nếu cần thiết.
Chiều cùng ngày, Bộ trưởng Đinh La Thăng chính thức tuyên bố ông Đỗ Tất Bình, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cảng HK miền Nam, sẽ thay ông Đặng Hồng Cương (Trưởng BQL dự án xây dựng nhà ga hành khách sân bay quốc tế Đà Nẵng) làm tổng chỉ huy, toàn quyền điều hành toàn bộ công việc từ ngày 5-10. Chính ông sẽ chịu trách nhiệm về mọi quyết định của ông Bình đối với dự án này. Đồng thời, buộc Contrexim và ICIC phải tăng cường nhân lực, vật lực theo yêu cầu do ông Bình đưa ra cũng như các khuyến cáo của tư vấn giám sát. Bộ GTVT sẽ tạo điều kiện tốt nhất, nhất là về vốn cho các nhà thầu này nhưng nếu trong vòng một tuần không đáp ứng được thì Công ty Hòa Bình sẽ vào thế chân ngay!

Kỷ luật nếu còn để đấu thầu chỉ có một nhà thầu
Không chỉ nhà ga hành khách mà công trình kéo dài, nâng cấp đường băng 35R-17L của sân bay quốc tế Đà Nẵng cũng đang hết sức chậm trễ. Xác định việc đưa đường băng này vào khai thác là rất cấp bách nên Bộ GTVT cũng yêu cầu phải hoàn thành trước 31-12. Tuy nhiên, đại diện nhà thầu là Công ty ACC (quân đội) cho biết đến nay tiến độ mới đạt 50%. Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng nêu rõ rất nhiều đơn vị xây lắp có thể đổ bê tông đường băng. Nếu từ nay trở đi còn để tình trạng việc đấu thầu xây dựng đường băng mà chỉ có một nhà thầu thì cục trưởng Cục HK dân dụng VN sẽ bị kỷ luật.

“Nỗi nhục quốc thể!”
“Việc hoàn thành dự án nhà ga sân bay Đà Nẵng đúng yêu cầu là danh dự của ngành GTVT, của các nhà thầu VN… Thế nhưng khi làm việc với tôi trưa 4-10, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh đã gọi đây là một “nỗi nhục quốc thể”!” - Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết. Tại cuộc gặp, ông Nguyễn Bá Thanh hết sức bức xúc trước tình trạng thi công ì ạch, chậm trễ kéo dài hết năm này đến năm khác trong khi hành khách trong nước lẫn quốc tế phải đứng giữa mưa, giữa nắng vì nhà ga cũ đã quá tải. Ông nói thẳng nếu đây là công trình của TP Đà Nẵng thì BQL dự án đã bị cách chức lâu rồi!
(Theo PLTPHCM)

VƯƠNG ĐÌNH HUỆ NHÀ LÃNH ĐẠO TƯƠNG LAI VIỆT NAM


VƯƠNG ĐÌNH HUỆ NHÀ LÃNH ĐẠO TƯƠNG LAI VIỆT NAM

Để “không ai doạ được Nhà nước”

SGTT.VN - Vị tân bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ cam kết sẽ công khai, minh bạch chuyện lỗ lãi của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, và “công bố các gian lận” nếu có, là câu chuyện thời sự trong tuần qua. Nhưng toàn cảnh thị trường rồi sẽ ra sao trước lời cảnh báo của đại diện bộ Công Thương mà ông Huệ và người dân tiếp nhận như lời đe doạ là cứ đà giảm mà không tăng giá này “hệ thống phân phối sẽ vỡ”?
Ông Huệ nói “Nhà nước không dọa ai” trước câu “không ai doạ được Nhà nước”. Và để không ai doạ được mình, Nhà nước đôi khi cũng cần “doạ” doanh nghiệp.
Chưa bàn đến khả năng dám vỡ của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, bản thân việc đặt ra khả năng đó đã là một “vũ khí” trong cuộc mặc cả nhân danh mặt hàng chiến lược mà phía bên kia không chỉ có một mình bộ Tài chính. Cũng giống như tập đoàn Điện lực nhân danh an ninh năng lượng để đòi tăng giá hay hiệp hội, doanh nghiệp lúa gạo từng nhân danh an ninh lương thực để hạn chế xuất khẩu, kiềm giá bán của nông dân mà ẩn đằng sau là nhu cầu cắt lỗ cho những hợp đồng xuất khẩu đã lỡ ký với giá thấp trong khi chưa có hàng để giao. Thật tội nghiệp cho người dân, cứ phải bấm bụng mua mắc, bán rẻ nhân danh lợi ích của mình.
Thứ trưởng bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú nói đúng, “có đủ xăng dầu mới là lợi ích lớn nhất của người dân”, cũng như phải có đủ điện, nhưng chỉ bấy nhiêu đó thì không đủ, và không hết trách nhiệm của mình. Sao mục tiêu không là có đủ với giá rẻ nhất có thể (sau khi doanh nghiệp đã thu lợi nhuận hợp lý)? Muốn vậy, phải giải được bài toán lỗ lãi theo cách không chỉ đọc báo cáo của doanh nghiệp là đủ. Không bàn đến chuyện động cơ, với chức năng đảm bảo nguồn cung, lưu thông, phân phối, có thể hiểu thái độ bảo vệ doanh nghiệp – bảo vệ hệ thống phân phối của ông Tú. Nhưng với một thị trường còn độc quyền như xăng dầu (Petrolimex giữ vai trò thống lĩnh tới khoảng 60% thị phần), với cơ chế điều hành giá nửa thị trường, nửa theo sự chỉ đạo của Nhà nước như hiện nay thì trong lúc khó khăn, doanh nghiệp không có nhiều động cơ cải cách quản trị để giảm lỗ. Mục tiêu, lộ trình chung của nền kinh tế là thị trường hoá, thị trường xăng dầu cần cạnh tranh hơn nữa để giảm thiểu việc những doanh nghiệp như Petrolimex tối đa hoá lợi ích khi chuyển đổi từ độc quyền nhà nước sang độc quyền doanh nghiệp. Dỡ bỏ rào cản, tạo điều kiện cho sự gia nhập thị trường là việc trong tầm tay bộ Công thương với tư cách là cơ quan cấp phép và là giải pháp phòng thủ mang tính chủ động nếu quả nguy cơ vỡ hệ thống phân phối là thật.
Đúng là cần có một hay nhiều Viettel trong thị trường xăng dầu, nhìn từ kinh nghiệm cạnh tranh thành công của thị trường viễn thông. Nhưng vẫn còn câu hỏi lớn từ thực tế hiện có 12 doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu, một con số không phải nhỏ. Lời giải có thể nằm ở chỗ cần phải nâng đỡ cạnh tranh hơn nữa bằng cách hạn chế vòi bạch tuộc hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp lớn đối với doanh nghiệp nhỏ trên tinh thần luật Cạnh tranh chứ không phải từ lòng tốt (mà đằng sau nó dễ là những xin – cho) của cơ quan quản lý. Cho đến nay, mọi sự lên hay xuống giá của các doanh nghiệp đều chỉ dám theo… Petrolimex. Nên nhớ rằng bộ Công thương đang là chủ quản cục Quản lý cạnh tranh, cơ quan có chức năng bảo vệ cạnh tranh trong cả nước.
Yêu cầu doanh nghiệp nào không đảm bảo dự trữ lưu thông, có ý định rút khỏi thị trường vì lỗ hãy lên tiếng để bộ Tài chính biết – cách ông Huệ ứng phó với lời đe doạ trên có thể hiểu là sẽ theo hướng này. Có điều, như đã nói, quả bóng lại trong chân bộ Công thương. Sau hội thảo tuần rồi, bộ Tài chính đã ra văn bản giải thích việc điều hành (giảm) giá xăng dầu vừa qua là có sự thống nhất về mục tiêu và hành động với bộ Công thương chứ hai bên không có bất đồng. Mọi sự thống nhất sau này, trên cơ sở nào, cũng cần được công khai, để xem có “thống nhất” với quyền lợi người dân như lựa chọn của ông Huệ hay không, nhưng bản thân nó có giá trị tiền đề cho những giải pháp cần sự phối hợp tiếp theo.
Cho tới nay, một môi trường kinh doanh bình đẳng vẫn là niềm mơ ước của doanh nghiệp dân doanh trong tương quan với “đối thủ” là doanh nghiệp nhà nước. Cũng cho đến nay, quan điểm về vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước đối với những lĩnh vực, mặt hàng thiết yếu để dễ điều tiết mà cùng với nó là những ưu đãi vẫn tồn tại, cho dù không phải sự chỉ đạo nào cũng dễ dàng nếu chỉ đạo – “cây gậy” không kèm theo “củ càrốt”. Giải pháp khả dĩ, trong trường hợp của thị trường xăng dầu hay điện, có lẽ là chia tách doanh nghiệp nhà nước đang độc quyền thành các doanh nghiệp nhỏ để chúng cạnh tranh nội bộ với nhau như đề xuất của nhiều người. Chia tách là việc nằm ngoài khả năng thực tế của các bộ, cho dù theo luật Cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền này. Tập đoàn, tổng công ty do Thủ tướng quyết định thành lập, thì cũng vậy đối với việc chia tách.
Còn độc quyền, chưa có cạnh tranh đúng nghĩa, chưa thị trường hoá hoàn toàn thì không thể để doanh nghiệp quyết định giá, Nhà nước phải can thiệp. Đó là quyết định đúng đứng trên quan điểm về vai trò của Nhà nước, nhưng lựa chọn này cũng đặt Nhà nước trong thế mắc kẹt – mắc nợ – phải bù lỗ cũng như bị đe doạ như lời doạ vỡ hệ thống.
Ông Huệ nói “Nhà nước không dọa ai” trước câu “không ai doạ được Nhà nước”. Và để không ai doạ được mình, Nhà nước đôi khi cũng cần “doạ” doanh nghiệp. Cạnh tranh là lời đe doạ hữu hiệu nhất để bảo vệ thị trường, bảo vệ hệ thống phân phối. Cạnh tranh đầy đủ theo nghĩa chống lại mọi hành động phản cạnh tranh, cần quyết tâm và hành động từ nơi quản lý nền kinh tế cao nhất.
Mỹ Lệ

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Công ty cấp nước không biết mình thất thoát bao nhiêu nước!

Sự quản lý yếu kém của cán bộ trong công ty cấp nước, người dân lãnh đủ.
Công ty cấp nước không biết mình thất thoát bao nhiêu nước!

SGTT.VN - Việc phân vùng, tách mạng chưa hoàn chỉnh nên hầu hết các công ty cấp nước trên địa bàn TP.HCM tham gia chống thất thoát nước chỉ làm những việc mà đơn vị cảm thấy liên quan đến chuyện thất thoát nước, còn làm được hay không, có kết quả hay không cũng chẳng biết. Đó là lý do mà hiện nay tổng công ty Cấp nước Sài Gòn (SAWACO) chưa quy được trách nhiệm đối với các công ty cấp nước thành viên.
Một cách tạo việc làm!
Từ nhiều năm qua, dù không biết được lượng nước đầu vào để xác định chính xác lượng nước thất thoát của khu vực đơn vị mình quản lý là bao nhiêu, nhưng các công ty cấp nước vẫn cứ lên kế hoạch chống thất thoát nước theo kiểu đối phó, được chăng hay chớ. Kế hoạch chống thất thoát nước hàng năm mà các công ty cấp nước đề ra đơn thuần là thể theo yêu cầu của SAWACO và cũng để có việc mà làm.
Năm nào các công ty cấp nước như: Bến Thành, Phú Hoà Tân, Tân Hoà, Chợ Lớn... cũng lên kế hoạch sửa chữa hàng ngàn điểm xì bể, thay thế hàng chục kilomet đường ống cũ mục và hàng trăm đồng hồ nước. Nhưng còn sửa chữa như thế nào, hiệu quả ra sao thì không ai biết và họ cũng chẳng bận tâm, vì cũng chẳng mất gì và được gì. “Chúng tôi thực hiện chống thất thoát nước là để giảm thất thoát nước chung cho SAWACO, chứ không phải cho riêng mình. Trách nhiệm của công ty không chỉ có chống thất thoát nước mà còn quản lý, vận hành hệ thống cấp nước và cung cấp nước sinh hoạt cho người dân bảo đảm chất lượng. Còn việc phân vùng, tách mạng phải do SAWACO thực hiện, chúng tôi đâu thể làm được điều này”, ông Đào Ánh Dương, phó giám đốc công ty cổ phần cấp nước Bến Thành giải thích.
Tuy nhiên, ông Dương cũng cho biết, hiện nay để tách mạng giữa công ty cấp nước Bến Thành với các công ty cấp nước khác là rất khó khăn. Tuyến ống chính nằm trên trục đường Cách Mạng Tháng Tám chạy qua địa phận quản lý của ba đơn vị cấp nước là: Bến Thành, Phú Hoà Tân và Tân Hoà. Trong khi đó, muốn tách mạng phải lắp đặt tuyến ống, đồng hồ mới, nhưng tuyến đường này lại có khá nhiều công trình ngầm, không còn chỗ để có thể lắp đặt. Do đó, muốn cụ thể hoá được lượng nước vào khu vực này chỉ có thể chia thành từng DMA (tiểu vùng), mỗi DMA lắp đặt một đồng hồ mới xác định được chính xác lượng nước vào khu vực. Hiện SAWACO đang triển khai thực hiện, nhưng phải mất hai – ba năm nữa mới có thể hoàn thành.
Còn theo ông Phan Mạnh Hiển, phó giám đốc công ty cấp nước Tân Hoà, công ty không biết lượng thất thoát nước bao nhiêu nhưng SAWACO biết, vì vậy lượng thất thoát nước của SAWACO giảm cũng chính là hiệu quả chống thất thoát nước từ các công ty. Các công ty cấp nước có làm tốt công tác chống thất thoát thì SAWACO mới giảm được lượng nước thất thoát.
Lỗi từ SAWACO
Hiện nay, SAWACO có tám công ty cấp nước thành viên chịu trách nhiệm quản lý, vận hành và cung cấp nước theo từng khu vực quy định, nhưng theo các nhà chuyên môn, thực sự việc hoạt động của các công ty hiện nay chẳng khác nào như một chi nhánh của SAWACO, chứ không phải là một công ty theo đúng nghĩa.
Tiến sĩ Ngô Hoàng Văn, phó chủ tịch hội Nước và môi trường TP.HCM cho rằng, không có nguyên liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra rõ ràng, các công ty cấp nước không có quyền tự quyết trong hoạt động của mình. Cũng chính vì vậy, các công ty cấp nước không được phân định nguồn nước đầu vào và đầu ra một cách cụ thể. Đây là một bất cập lớn, khiến cho công tác chống thất thoát nước ở các công ty cấp nước không được thực hiện một cách triệt để và SAWACO cũng không thể nào đưa ra chế tài để xử lý. Lẽ ra SAWACO phải để những công ty này hoạt động độc lập, giao cho họ một nguồn nước cụ thể nào đó và chịu trách nhiệm cung cấp nước. Nếu chống thất thoát tốt, đảm bảo lượng nước bán được nhiều, thì sẽ thu vào bao nhiêu, còn lại trích một phần cho SAWACO.
Cũng theo các nhà chuyên môn, khi phân vùng quản lý cho các công ty cấp nước quản lý, lẽ ra SAWACO phải dựa vào tuyến ống thì lại dựa vào địa bàn. Chính việc làm không hợp lý này, SAWACO đã phải “chữa cháy” bằng cách, theo dõi lượng nước trên đồng hồ của đường ống chính. Nếu đường ống này chảy vào bao nhiêu khu vực thì căn cứ vào đó để chia lượng nước đầu vào mang tính tương đối cho từng khu, rồi lấy đó làm cơ sở để tính lượng nước thất thoát. Kiểu làm này đã không thuyết phục được các công ty cấp nước, nên dù có bị thất thoát nhiều đến bao nhiêu cũng không thể chế tài được.
Sự bất cập trên đã khiến cho công tác chống thất thoát nước đang rơi vào tình trạng “cha chung không ai khóc”. Và cuối cùng, gánh chịu thất thoát vẫn là người dân.
Hồ Quang

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐIỀU HÀNH KHÔNG HIỆU QUẢ

CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐIỀU HÀNH KHÔNG HIỆU QUẢ

Viện trưởng Viện các vấn đề phát triển Thang Văn Phúc:
"Bộ máy phình to, nhưng vẫn đẩy việc cho Thủ tướng"
SGTT.VN - Mặc dù mới thôi làm thứ trưởng bộ Nội vụ, sang đảm nhiệm chức vụ viện trưởng viện Các vấn đề phát triển, ông Thang Văn Phúc vẫn rất quan tâm đến các hoạt động cải cách hành chính hiện nay. Báo Sài Gòn Tiếp thị đã phỏng vấn ông về một số vấn đề dư luận quan tâm:
Tổng kết nhiệm kỳ Chính phủ, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành vẫn còn chồng chéo, cắt khúc dẫn đến hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, trong khi chúng ta mới thực hiện chủ trương sáp nhập, tinh giản bộ máy được bốn năm. Ông có bình luận gì?

Viện trưởng Viện các vấn đề phát triển Thang Văn Phúc.


Bộ máy Chính phủ đã gọn nhẹ hơn, trong khóa này đã giảm từ 26 bộ và cơ quan ngang bộ xuống còn lại con số 22. Tuy cải cách bộ máy nhưng chức năng, nhiệm vụ vẫn chưa chuyển biến kịp. Nhà nước vẫn đang tiếp tục can thiệp quá sâu vào thị trường. Bộ máy bắt đầu sa vào giải quyết quá sâu những vấn đề cụ thể. Nhiều việc không làm xuể thế là phát sinh tổng cục, chi cục khiến đầu mối thì giảm mà cơ cấu bên trong vẫn tiếp tục phình to. Các chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo. Bối cảnh lạm phát mấy năm vừa qua đã phơi bày rõ sự lúng túng.
Tôi cho rằng, nhà nước có chức năng hoạch định cơ chế chính sách cho đúng, còn lại cuộc sống và thị trường sẽ tự điều chỉnh. Việc cải cách phải theo hướng phân công rạch ròi nhiệm vụ giữa các cơ quan của Chính phủ để mỗi đơn vị làm đúng quyền hạn được giao, tránh sự dựa dẫm, ỷ lại.
Quốc hội đang chuẩn bị phê chuẩn bộ máy Chính phủ khóa mới và các nhà nghiên cứu đang bàn về các xu hướng tiếp tục cải cách bộ máy. Theo ông, trước mắt nên ưu tiên cải cách theo hướng nào?
Số lượng 22 bộ, ngành như hiện nay vẫn nhiều. Có lẽ khóa này phải giảm xuống còn khoảng 20 bộ và cơ quan ngang bộ và tiếp tục giảm dần ở các khóa sau. Do nhiệm kỳ vừa qua chỉ sáp nhập các cơ quan mà không tính tới chuyển đổi chức năng nên số đầu việc vẫn nhiều.
Sắp tới phải xác định rõ ràng phạm vi những việc nhà nước cần làm. Chính phủ chỉ giữ lại những nhiệm vụ tối thiểu cần thiết, khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự. Ngoài ra, bộ máy phải có năng lực kiểm soát được toàn bộ tình hình và khống chế bằng cơ chế, chính sách.
Sau khi đã phân định được rõ ràng chức năng thì mới tính đến việc giảm đầu mối, sáp nhập, tinh giản.
Một khi nhà nước làm đúng chức năng thì bộ máy gọn gàng, không chồng chéo nhiệm vụ. Tất nhiên, các điều kiện đi kèm là phải có đội ngũ quản trị đủ giỏi để chuẩn bị cơ chế, chính sách tương thích với cung cách quản lý trong cơ chế thị trường. Nên phải có một đội ngũ cấp cao làm chính sách pháp luật vĩ mô trong tình hình mới hiện nay thì mới ra được chủ trương đúng.
Còn một vấn đề khác là vai trò của người nhạc trưởng trong điều hành, quản lý. Tại buổi làm việc với TP.HCM mới đây, Thủ tướng có nói các bộ khi soạn thảo luật thì đừng đẩy thẩm quyền lên Thủ tướng vì khi Thủ tướng là người quyết thì không ai kiểm tra Thủ tướng. Ông có chia sẻ gì với người đứng đầu Chính phủ?
Tôi cho đó là một câu nói thấm thía.
Chúng ta đang thực hiện phân cấp song lại là phân cấp nửa vời nên dẫn đến tình trạng cấp dưới đẩy trách nhiệm lên cho cấp trên, thế là vô can.
Trong khi đó, theo nguyên tắc tổ chức thì Thủ tướng chỉ quản lý ở cấp quốc gia. Đã là việc của các bộ ngành thì các vị trưởng ngành phải chịu trách nhiệm chứ không thể đẩy hết lên trên cho Thủ tướng được. Đẩy việc lên cho Thủ tướng dẫn đến tình trạng ôm đồm. Từ đó, bộ phận tham mưu càng phình to thêm và có thể sẽ phát sinh vấn đề bởi các nhóm lợi ích.
Như vậy trong bộ máy đang có vấn đề về xác định trách nhiệm cá nhân cũng như kiểm soát quyền lực. Tới đây chúng ta cần đổi mới theo hướng như thế nào để mỗi việc đều có người chịu trách nhiệm và quyền lực được kiểm soát?
Cơ cấu tổ chức như hiện nay cho thấy rất khó để kiểm soát quyền lực. Mọi quyết định đều mang tính tập thể.
Tuy nhiên, có thể kiểm soát quyền lực người đứng đầu thông qua cơ quan Quốc hội hoặc bộ Chính trị, ban chấp hành Trung ương. Và quan trọng nhất là sự kiểm soát của người dân. Người đứng đầu Chính phủ phải xác lập được uy tín chính trị trước dân.
Một số nước khác có cơ chế sử dụng các nhóm chuyên gia phản biện chính sách.
Nói chung, khi nhà nước vận hành theo một cơ chế thông suốt không chồng chéo thì sẽ hạn chế được việc lạm quyền. Còn nếu không sẽ chỉ tạo ra các kẽ hở dẫn đến tình trạng trì trệ và tham nhũng. Thiệt hại cuối cùng là nhân dân và đất nước.
Xin cảm ơn ông.
Ngọc Trang (thực hiện)

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

Không độc lập, Quốc hội chỉ là cơ quan hình thức”

Không độc lập, Quốc hội chỉ là cơ quan hình thức”
- Vai trò  của chức năng giám sát Quốc hội, thực trạng và đề xuất nâng cao hiệu quả thực thi… là một số nội dung trọng tâm được thảo luận trong Hội thảo Hoạt động giám sát của Quốc hội trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, tổ chức ngày 03/06/2011. 
Quốc hội phải độc lập  
“Sinh sau đẻ muộn” so với chức năng hành pháp, song giám sát ngày càng trở thành chức năng chính yếu, thậm chí vượt cả lên trên chức năng lập pháp. “Giám sát là số 1, sau đó mới đến lập pháp”, đó là quan điểm của TS. Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp. 
Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiện giám sát lại đang là  chức năng yếu nhất trong các chức năng của Quốc hội. Từ kinh nghiệm tham gia ba nhiệm kỳ đại biểu quốc hội, TS. Phạm Quý Tỵ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp của Quốc hội, cho biết trong các báo cáo cuối nhiệm kỳ, chức năng giám sát luôn được xếp “đầu bảng” yếu kém. 
Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, vì vậy giám sát của Quốc hội là giám sát tối cao. Song, ở cơ chế hiện nay đang tồn tại một mâu thuẫn: quyee luật là tối cao nhưng thực chất việc thực thi quyền lực lại rất hạn chế, chưa hiệu quả. 
Sở dĩ  như vậy, theo GS.TS. Đào Trí Úc, Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, là do quốc hội vẫn còn là chủ thể mang “tính đại diện chung chung” cho quyền lực nhà nước, mà còn thiếu chế tài, tính bắt buộc để hiện thực hóa quyền lực này. “Cơ chế giám sát Quốc hội phải từ hình thức giám sát chính trị đơn thuần sang giám sát chính trị - pháp lý”, ông Úc nhận xét.  
Muốn hoạt  động hiệu quả, một điểm cốt yếu là  Quốc hội phải độc lập, “Quốc hội chỉ là cơ quan hình thức nếu như không độc lập”, TS.Thái Vĩnh Thắng (Đại học Luật), khẳng định.  
Điều này thể hiện ở chỗ Quốc hội phải có quyền. Ví dụ, nếu chính phủ hoạt động yếu kém thì phải có quyền bãi nhiễm chính phủ, đưa vấn đề ra chất vấn mà không trả lời được thì có thể bị bỏ phiếu bất tín nhiệm, v.v… 
Các thành viên hội thảo cũng chỉ  ra nguyên nhân và giải pháp từ khía cạnh chủ thể giám sát: trong giám sát quốc hội, chủ thể giám sát không chỉ là quốc hội, mà còn là Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc các Ủy ban, Đoàn đại biểu Quốc hội, rồi đại biểu quốc hội.  
Trong đó, theo TS. Phạm Quý Tỵ, “chủ thể giám sát quan trọng nhất là Hội đồng dân tộc các Ủy ban”. Vì vậy cần tập trung đầu tư vào chủ thể này. Ngoài ra, TS. Phạm Quý Tỵ còn đề nghị cần nghiên cứu sửa luật tổ chức Quốc hội để giao cơ chế điều trần cho Hội đồng dân tộc các Ủy ban.  
Một giải pháp khác được hội thảo đưa ra là tăng cường các hoạt động hậu giám sát. Theo bà Nguyễn Thị Mai Thoa, Phó vụ trưởng Vụ Tổng hợp Văn phòng Quốc hội, hoạt động này “có tác động rất lớn đến hiệu quả giám sát”. Tuy nhiên bà Thoa cũng thừa nhận, hiện hoạt động hậu giám sát vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu các kế hoạch và kinh phí. 
Chất vấn Quốc hội: nghe rất sướng nhưng… 
Theo nhiều  ý kiến đánh giá, trong 5 hình thức của hoạt  động giám sát hiện nay (giám sát văn bản; Văn bản quy phạm pháp luật; Chất vấn và trả lời chất vấn; Giám sát chuyên đề; Bỏ phiếu tín nhiệm) thì “rôm rả” nhất và thực hiện tốt nhất là chất vấn và trả lời chất vấn. Chất vấn đã trở nên có hiệu quả thực sự, rất được cử tri quan tâm theo dõi chứ không phải chỉ mang tính hình thức. 
Dẫn chứng cho nhận định này, một thành viên hội thảo chỉ ra hiện nay thậm chí một số bộ trưởng sợ chất vấn. Từng có những vị trưởng ngành gặp từng đại biểu quốc hội “xin tha” chất vấn tại nghị trường quốc hội. Việc chất vấn nghiêm túc cũng khiến các lãnh đạo đầu ngành cẩn trọng hơn khi đưa ra lời hứa, thậm chí… sợ không dám hứa. 
Tuy nhiên, ngay cả hoạt động chất vấn dù đã được cải tiến nhiều và thể hiện rõ không khí dân chủ ngày càng tăng, nhưng thực chất hiệu quả của hoạt động này vẫn còn là vấn đề cần xem xét. GS.TS. Đào Trí Úc nhận xét: “Chất vấn sôi nổi lắm, cũng có lúc dồn nén lắm, nghe rất sướng nhưng cuối cùng chỉ đến thế, chỉ đến lời hứa nhưng sau đó làm thế nào, hiệu quả bao nhiêu…? 
Một điểm yếu nữa của hoạt động này là thiếu “trọng tài” để đứng ra phân xử. Người trả lời chất vấn đã trả lời thỏa đáng chưa, nếu chưa thỏa đáng thì có thể đi tới bỏ phiếu tín nhiệm hay không? Điều này hiện nay đang bỏ ngỏ, rất hạn chế, phần đánh giá cuối cùng vẫn còn nhẹ nhàng, phần tổng kết còn chung chung, việc đánh giá kết quả thực hiện vẫn chưa rõ ràng.  
Quốc hội có nên giám sát các vụ án cụ thể? 
Một vấn  đề còn gây nhiều tranh cãi cũng được đưa ra thảo luận tại hội thảo là liệu Quốc hội có nên thực hiện việc giám sát các vụ án cụ thể. Với vai trò là cơ quan giám sát tối cao, liệu hoạt động giám sát này có khiến Quốc hội “sa đà” vào cây mà quên mất rừng? 
Có  một thực tế là rất nhiều vụ dân khiếu nại, đưa lên các cơ quan chức năng nhưng không giải quyết được, cuối cùng phải đưa ra Quốc hội và nhờ Quốc hội mà tháo gỡ được.  
Từ  thực tế công việc, TS. Phạm Quý  Tỵ chỉ ra mỗi tháng ủy ban tư pháp của ông nhận được khoảng 700 đơn của dân yêu cầu thực hiện giám sát vụ án cụ thể (1 năm gần là gần 10.000). 
Hội  đồng thẩm phán là cơ quan xét xử cao nhất của nhà nước, nhưng thực tế cho thấy không ít vụ án dù đã được đưa lên tận cấp cao nhất này nhưng vẫn bị xét xử oan sai. “Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, hình thức giám sát như vậy là cần thiết”, ông Tỵ nhận định. 
Vấn  đề quan trọng là Quốc hội sẽ  giám sát tới đâu, trong phạm vi nào. Các thành viên hội thảo đều nhất trí vai trò giám sát này sẽ không đồng nghĩa với việc Quốc hội làm thay hay “giẫm chân” lên vai trò của các cơ quan khác. Vấn đề cần thiết là phải xây dựng các tiêu chí để xác định được những vụ án, bản án nào cần đưa ra trước quốc hội.
Quốc hội cũng không thể làm thay nhiệm vụ giám đốc thẩm, nhưng ít nhất cũng phải làm một số vụ án để có cơ sở chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác xét xử, đoàn thẩm phán sai đúng như thế nào, cần đào tạo ra sao, v.v… từ đó đưa ra kiến nghị. Giám sát chứ không làm thay, đưa ra kiến nghị chứ không bãi bỏ bản án.  
Mỹ  Hòa (thực hiện) 

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

“Tàu Trung Quốc phá hoại tàu địa chấn của Việt Nam là ngang ngược"

“Tàu Trung Quốc phá hoại tàu địa chấn của Việt Nam là ngang ngược"
SGTT.VN - Sáng 26.5, các tàu hải giám Trung Quốc đã cản trở và cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 (Petro Việt Nam), cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý, vi phạm lãnh hải Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của Petro Việt Nam.
Ngày 27.5, trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí tại Hà Nội, phó tổng giám đốc tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) Đỗ Văn Hậu đã thông báo việc sáng 26.5, các tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của PVN.

Thực hiện kế hoạch PVN đã phê duyệt chương trình thăm dò khai thác dầu khí năm 2011, tổng công ty dịch vụ kỹ thuật Dầu khí, một thành viên của PVN, đã cử tàu địa chấn Bình Minh 02 triển khai khảo sát địa chấn tại khu vực lô 125, 126, 148, 149 ở thềm lục địa miền Trung của Việt Nam.

Cả 4 lô này đều nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tàu địa chấn Bình Minh 02 đã khảo sát hai đợt tại đây, đợt 1 vào năm 2010 và đợt 2 bắt đầu từ ngày 17.3.2011. Quá trình khảo sát những ngày vừa qua được tiến hành trôi chảy và tàu Bình Minh đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

Tuy nhiên, vào lúc 5 giờ 5 phút ngày 26.5, radar tàu địa chấn Bình Minh 02 đã phát hiện có tàu lạ đang chuyển động rất nhanh về phía khu vực khảo sát và sau đó 5 phút thì phát hiện tiếp 2 tàu nữa đi từ phía ngoài vào. Đó là ba tàu hải giám của Trung Quốc chạy thẳng vào khu vực khảo sát mà không có cảnh báo.

Trên cơ sở tốc độ di chuyển của tàu hải giám Trung Quốc, tàu Bình Minh thấy có khả năng sẽ ảnh hưởng đến thiết bị của tàu nên đã quyết định hạ thấp thiết bị để tránh thiệt hại.

Vào lúc 5 giờ 58 phút, tàu hải giám Trung Quốc đã chủ động chạy qua khu vực thả dây cáp, cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02. Vị trí mà ba tàu hải giám Trung Quốc phá hoại thiết bị của tàu Bình Minh 02 của PVN, chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý, nằm hoàn toàn trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Phó tổng giám đốc PVN cho biết thêm ba tàu hải giám Trung Quốc đã làm ảnh hưởng, cản trở hoạt động bình thường của tàu địa chấn Bình Minh 02; sau đó tiếp tục uy hiếp tàu Bình Minh 02, thông báo là tàu Bình Minh đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Nhưng tàu Bình Minh của PVN bác bỏ luận điệu của tàu hải giám Trung Quốc và khẳng định rằng tàu Bình Minh đang nằm trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam.


Vị trí tàu địa chấn Bình Minh 02 bị ba tàu hải giám Trung Quốc phá hoại. Ảnh: TTXVN

Tuy nhiên, việc tiếp tục công việc ngay lúc đó của tàu Bình Minh 02 vẫn bị ba tàu Hải giám Trung Quốc cản trở cho tới 9 giờ sáng 26.5 khi 3 tàu này rời khỏi khu vực khảo sát.

Tàu Bình Minh 02 và các tàu bảo vệ đã phải dừng công việc trong ngày 26.5 và thu lại các thiết bị bị hỏng để sửa chữa. Dưới sự chỉ đạo của PVN và tổng công ty dịch vụ kỹ thuật Dầu khí, tàu Bình Minh 02 đã sửa chữa thiết bị tại chỗ và tới 6 giờ sáng nay 27.5, tàu Bình Minh 02 đã trở lại hoạt động.

Phó tổng giám đốc PVN khẳng định việc các tàu hải giám Trung Quốc vào rất sâu trong lãnh hải của Việt Nam để phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của PVN là một hành động hết sức ngang ngược, vi phạm trắng trợn đối với quyền chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của PVN.

PVN đã báo cáo và đề nghị Chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có các biện pháp phản đối mạnh mẽ nhất có thể đối với phía Trung Quốc; yêu cầu phía Trung Quốc dừng ngay các hành động cản trở hoạt động của PVN, đồng thời hỗ trợ PVN thực hiện nhiệm vụ thăm dò, khai thác của mình. PVN khẳng định các công việc khảo sát địa chấn ở khu vực này sẽ được tiến hành bình thường vì đây là khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam. PVN sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để bảo đảm cho hoạt động của tàu Bình Minh 02 được hiệu quả, an toàn.

Tàu địa chấn Bình Minh 02 được PVN đầu tư trang bị từ năm 2008 và đã tiến hành các đợt khảo sát trên vùng thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Bộ Ngoại giao trao công hàm phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam
Chiều 27.5, một quan chức bộ Ngoại giao cho biết, đại diện của bộ đã gặp đại diện đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để trao công hàm phản đối việc tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 2, thuộc tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong thềm lục địa của Việt Nam.
Trong công hàm này, Việt Nam phản đối hành động nói trên của phía Trung Quốc, yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời phải bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam.
Nội dung công hàm cũng nêu rõ hành động nói trên của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa, vi phạm Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc. Hành động này trái với tinh thần và lời văn của Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), cũng như nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam và Trung Quốc về việc không làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông.
Bộ Ngoại giao xác nhận, vào lúc 5h58’ sáng ngày 26.5, trong khi tàu Bình Minh 2 đang khảo sát tại lô 148 trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam đã bị 3 tàu hải giám số 12, 17 và 84 của Trung Quốc cắt cáp thăm dò. Tọa độ bị cắt cáp ở vị trí 12o48’25” Bắc và 111o26’48” Đông, cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý.
Việt Anh
Theo TTXVN

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Vụ chìm tàu Dìn Ký: Trách nhiệm thuộc về ai?

Vụ chìm tàu Dìn Ký: Trách nhiệm thuộc về ai?
SGTT.VN - Đã hai ngày sau khi vụ tai nạn làm chìm tàu du lịch hai tầng Dìn Ký xảy ra tại ấp Bình Thuận, xã Bình Nhâm, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương khiến 16 người chết, nhưng chưa đơn vị nào của tỉnh Bình Dương lên tiếng nhận trách nhiệm.
“Nếu quản lý chặt, tàu sẽ không bị chìm”
Khu vực bến tàu trong khu du lịch Dìn Ký không có giấy phép hoạt động nhưng vẫn tồn tại nhiều năm nay. Ảnh: Từ An
Chiều 21.5, trao đổi với báo chí, ông Trần Văn Nam, phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương nhận định ban đầu về nguyên nhân của vụ tai nạn chìm tàu là do một cơn lốc đột ngột đi qua khiến con tàu bị xô ngã qua một bên và chìm xuống lòng sông Sài Gòn.
Sáng qua 22.5, sau khi trục vớt con tàu thành công, lực lượng công an đang tiến hành điều tra. Theo một cán bộ Cục đường sông Việt Nam, tàu BD 0394 (tài xảy ra tai nạn) có chiều dài khoảng 27m, chiều rộng thân tàu 4,5m nhưng chiều cao lên đến gần 6m và được bố trí thành hai tầng, thân tàu bằng gỗ hoàn toàn. “Khi cấp phép cho tàu này hoạt động dịch vụ du lịch thì đơn vị cấp phép đã không lường trước tình huống xảy ra tương tự. Về phía chủ tàu có biểu hiện cơi nới tàu lên cao hơn. Về nguyên tắc, chiều cao của tàu không vượt quá chiều rộng của thân tàu, hơn nữa đây là tàu gỗ… Khi các cửa bị đóng sẽ tạo nên một tấm chắn gió, vô tình khiến tàu không thể đứng vững giữa gió lớn. Về việc này, rõ ràng phải xem về trách nhiệm của khâu quản lý và cấp phép. Nếu quản lý chặt, tàu sẽ không bị chìm”, cán bộ này nhận định.
Trong khi đó, theo kết quả điều tra ban đầu, tàu BD 0394 đã hết hạn đăng kiểm từ ngày 28.1.2011. "Khi hết hạn đăng kiểm, chủ phương tiện phải là người đầu tiên đưa tàu đi kiểm định. Việc kiểm tra và xử phạt do CSGT và thanh tra giao thông đường thủy thực hiện. Còn trường hợp tàu không được đăng ký kiểm định, tài công không được đào tạo và cấp giấy phép theo quy định thì khi xảy ra tai nạn, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện đó gây ra”, ông Đàm Trọng Cường, phó giám đốc sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương nói.  
“Con voi chui lọt lỗ kim”
Vẫn chưa có đơn vị nào lên tiếng nhận trách nhiệm vụ chím tàu nhà hàng Dìn Ký. Ảnh: Từ An
Cho đến chiều 22.5, trong khi cơ quan chức năng tỉnh Bình Dương đang điều tra xác định trách nhiệm và vai trò của các bên liên quan, vẫn chưa một đơn vị nào lên tiếng nhận trách nhiệm vụ việc.
Ông Phạm Văn Duy, giám đốc cảng vụ đường thủy nội địa Khu vực 3 cho biết, bến tàu du lịch của nhà hàng Dìn Ký hoạt động không có giấy phép. Theo quy định, đối với những nơi hoạt động cảng, bến thủy nội địa… có chức năng đưa, đón hành khách lên xuống phương tiện chở khách… đều phải được cấp phép hoạt động, phương tiện phải được kiểm định. “Thế nhưng, cầu phao của khu du lịch sinh thái này được làm bằng thùng phuy nên không đủ điều kiện cấp phép. Ngoài ra bản thân tàu BD 0394 cũng đã hết hạn kiểm định nhưng chủ phương tiện không đưa đi kiểm định”, ông Duy xác nhận.
Chiều cùng ngày, ông Đàm Trọng Cường, phó giám đốc sở Giao thông vận tải (GTVT) tỉnh Bình Dương cho rằng, về hoạt động cấp phép du lịch do sở Văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Bình Dương đảm trách. Còn về chức năng của sở GTVT chỉ cấp biển số tàu (giấy phép đăng ký) khi tất cả các giấy tờ kiểm định chất lượng… đã hoàn thành. “Ngoài ra, chúng tôi có trách nhiệm kiểm tra và thanh tra hoạt động của tàu, nếu tàu vi phạm luật giao thông thủy sẽ bị phạt. Riêng tàu BD 0394 chúng tôi đã một lần xử phạt về lỗi hết thời hạn kiểm định và yêu cầu chủ phương tiện đưa tàu đi kiểm định, nhưng chủ tàu vẫn lén lút hoạt động đến khi xảy ra sự cố”, ông Cường cho biết.
Một câu hỏi đặt ra, vì sao khu du lịch Dìn Ký hoạt động đã nhiều năm nhưng khu vực bến tàu lại không có giấy phép hoạt động, trong khi phương tiện (tàu du lịch) lại được cấp phép hoạt động?
Từ An – Đào Lê

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

Giám sát nợ: những câu hỏi bỏ ngỏ

Giám sát nợ: những câu hỏi bỏ ngỏ

SGTT.VN - Đến thời điểm này, vẫn còn những câu hỏi bỏ ngỏ quanh nội dung thông tư 56/2011/TT-BTC của bộ Tài chính mới ban hành, có hiệu lực từ 1.8.2011, về việc hướng dẫn phương pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát và tổ chức hoạt động giám sát nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia.
Điều 11 của dự thảo thông tư này (được đưa ra để lấy ý kiến đóng góp trên website của bộ Tài chính) liên quan đến việc xác định hạn mức vay nợ nước ngoài đã không còn được thể hiện trong bản chính thức được ban hành. Trong khi, đây vốn là điểm rất quan trọng và thể hiện sự minh bạch của cơ chế điều hành và quản lý nợ công.
Theo điều 11 của dự thảo, phương pháp xác định hạn mức vay nước ngoài gồm ba bước: xác định tỷ lệ vay nước ngoài so với GDP của năm kế hoạch; tổng dư nợ nước ngoài đến cuối năm kế hoạch; và tổng mức vay hay còn gọi là hạn mức vay năm kế hoạch.

Với tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn năm năm tới vào khoảng 7 – 7,5% theo như các công bố gần đây của lãnh đạo bộ Kế hoạch và đầu tư, và lãi suất bình quân gia quyền các khoản vay nước ngoài hiện vào khoảng 3%, ước tính mỗi năm tỷ lệ vay nước ngoài so với GDP sẽ tăng khoảng 2% và đến cuối năm 2015 sẽ chạm mức 50% GDP. Đây cũng là mức trần khống chế theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Áp vào tiêu chí đánh giá nợ nước ngoài của ngân hàng Thế giới thì chỉ tiêu trên thuộc vào mức “trầm trọng”.

Với kịch bản này, vấn đề cần đặt ra tiếp theo là liệu có phải cơ quan quản lý đang muốn hợp pháp hoá mức tăng nợ nước ngoài vốn đang trong xu hướng đi lên rất nhanh? Các con số đáng lưu ý là nợ công so với GDP đã tăng từ 36% năm 2001 lên 56,7% vào năm 2010; nợ nước ngoài từ 2007 đến cuối năm 2009 đã tăng thêm gần 7%, lên mức 39% GDP. Thứ đến, tỷ lệ vay nước ngoài so với GDP thời gian tới có đáng lo ngại không với cách xác định và điều hành quy định tại thông tư này? Hơn nữa, có còn cơ chế nào để ràng buộc các cơ quan quản lý, giám sát và điều hành nợ nước ngoài giữ mức rủi ro nợ chấp nhận được và họ có động lực làm việc này không? Cuối cùng, tính ổn định của nợ, rủi ro nợ sẽ thế nào với cách thức xác định hạn mức nợ này, đặc biệt là sau năm 2015?
Một điểm đáng chú ý khác, dù dự thảo không tồn tại nhưng thông tư vừa được ban hành, trong điều 11 về tổ chức điều hành hạn mức vay nước ngoài lại xuất hiện nội dung quy định các doanh nghiệp phải gửi đăng ký nhu cầu vay vốn nước ngoài cho năm sau trước thời hạn 31.12 cho bộ Tài chính (đối với các khoản vay đề xuất có bảo lãnh của Chính phủ) và cho ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đối với các khoản vay không có bảo lãnh của Chính phủ). Câu hỏi đặt ra là liệu quy định này có làm nảy sinh cơ chế xin – cho? Tiêu chí nào được chọn là ưu tiên khi phê duyệt kế hoạch vay nước ngoài của doanh nghiệp: số dư nợ dự kiến, điều kiện vay, hay khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi…? Trong khi đó, tham chiếu nghị định 79/2010/NĐ-CP (mà thông tư 56 này là văn bản hướng dẫn) về nghiệp vụ quản lý nợ công thì không thấy nhắc đến việc doanh nghiệp phải gửi đăng ký, hay trình dự án và kế hoạch vay, trả nợ.
Vũ Anh

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

LẠM PHÁT CÓ THỂ 18,2% NĂM 2011

Lúng túng ở "ngã ba đường", lạm phát có thể 18,2%
(VEF.VN) - Nếu Chính phủ kiên định làm đúng 6 giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết 11, lạm phát cả năm 2011 thấp nhất cũng là 15,5%. Còn nếu Chính phủ "không kiên nhẫn", lạm phát có thể tăng tới 18,2%.
Lạm phát năm 2011 không thể thấp hơn 15%
Công bố dự báo này, TS. Nguyễn Đức Thành, chủ biên của Báo cáo Kinh tế Việt Nam năm 2011 (Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách - VEPR, ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội) công bố sáng 17/5,  thẳng thắn nói: "Các kịch bản về lạm phát này là rất bi quan. Chúng tôi lấy tiêu chí về mặt kinh tế chứ không theo chỉ tiêu của Chính phủ và Quốc hội. Cho tới nay, dự báo CPI này có thể coi là cao nhất so với các tổ chức nghiên cứu khác".
Chưa khi nào, chỉ số lạm phát lại có vẻ khó đoán như năm nay. Liệu nền kinh tế có rơi vào trạng thái "siêu lạm phát" như hồi năm 2008 hay không? Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2011 rốt cục sẽ là bao nhiêu?
Thật khó nói trước được con số nào khi mà từ đầu năm đến nay, đã có những dự báo lạm phát Việt Nam được đưa ra và nhanh chóng bị lạc hậu.
Đầu năm, các chuyên gia kinh tế chỉ dám "lấp lửng" CPI sẽ tầm khoảng 9-10%. Cuối tháng 3, Ngân hàng Thế giới lạc quan nói, CPI Việt Nam chỉ ở mức 9,3%. Nhưng không ngờ, đúng 1 tháng sau, CPI tháng 4 (so với tháng 12/2010) đã là 9,64%. Họp thường kỳ Chính phủ tháng 4, Thủ tướng đã chỉ đạo kiềm lạm phát với mốc giới hạn đã lên tới 12-13%. Ngân hàng ANZ mới đây cũng chỉ dám "đoán" CPI của Việt Nam là 13,5%.

Báo cáo của VEPR dự báo Việt Nam khó kiềm chế lạm phát dưới 15% (ảnh Phạm Huyền)

Vì lẽ đó, con số 15-18% của Trung tâm VEPR cao cách biệt so với mọi công bố trên là thời sự nhất, cũng khiến khá nhiều người tin rắng, có vẻ là con số  nói "thật" nhất.
TS. Nguyễn Đức Thành chia sẻ: "Ở kịch bản CPI là 15,5%, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ là 6,2%. Chúng tôi tính toán với giả thiết Chính phủ chấp nhận nhiều cú sốc về giá, điều chỉnh lớn giá các mặt hàng nguyên liệu đầu vào và thực hiện theo đúng Nghị quyết 11".
"Tuy nhiên, chúng tôi e ngại sự kiên nhẫn của Chính phủ với gói giải pháp thắt chặt tài khóa tiền tệ theo Nghị quyết 11 hiện nay. Thông thường tới quý III, cộng với sức ép của dư luận doanh nghiệp, xã hội, điều hành kinh tế lại chuyển sang hướng nới lỏng. Vì thế, lạm phát theo kịch bản này có thể là hơn 18%, hiệu ứng tăng trưởng kinh tế cao hơn tương ứng là 6,5%. Tuy nhiên, kèm theo đó sẽ là những bất ổn, rủi ro và lạm phát nằm ngoài tầm kiểm soát", vị chuyên gia này nói.
Vì sao nền kinh tế đứng trước ngã ba đường?
Nói rằng nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường, có lẽ, những nhà quản lý, hoạch định chính sách hiện nay sẽ cảm thấy chạnh lòng hơn hết. Ngã ba đường ấy không thể đổ lỗi cho sự quá độ từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Sòng phẳng hơn, đó là do cách điều hành thiếu dài hơi và có phần lạm dụng mệnh lệnh hành chính đối với một nền kinh tế mở như Việt Nam.
TS. Nguyễn Đức Thành cắt nghĩa: "Các vấn đề kinh tế hiện nay đều ở thời điểm mang tính bước ngoặt, phải lựa chọn nhiều mục tiêu. Ví dụ như mô hình kinh tế hiện nay bắt nguồn sâu xa từ giai đoạn trước, dựa trên nền tảng lấy doanh nghiệp Nhà nước là chủ đạo, coi các Tập đoàn kinh tế Nhà nước là trụ cột chính. Đến nay, mô hình này rõ ràng đang gây nhiều tranh cãi bởi nó khiến cho nguồn lực phân bổ không đồng đều, rủi ro ngày càng hiện hữu".
Một ví dụ khác là câu chuyện giằng xé mục tiêu giữa một bên là tăng trưởng kinh tế với một bên là thực tế năng động của đời sống kinh tế toàn cầu. Khi cứ lúng túng ở ngã ba đường, rất khó làm chính sách. Cơ chế phân cấp như thế nào cho hiệu quả cũng đang phải bàn lại rất nhiều, vì liên quan đến việc kiểm soát tài sản quốc gia...
"Trong bối cảnh này, niềm tin và sức chịu đựng của cộng đồng doanh nghiệp giảm mạnh", ông Thành nói.

Các DN sản xuất gặp nhiều khó khăn do lãi suất tăng cao (ảnh Phạm Huyền)

Chia sẻ xung quanh báo cáo kinh tế trên, TS. Lê Xuân Nghĩa nhận xét, trong điều hành kinh tế chưa hài hòa, khi thắt chặt thì lại chặt quá, đến lúc phải nới lỏng thì doanh nghiệp cũng phải mất 3-4 tháng mới hồi sức được.
Không chỉ vậy, ông Nghĩa còn cho rằng, chính sách lãi suất hiện nay chính là nguyên nhân đẩy càng ngân hàng rơi vào cảnh có hai hệ thống kế toán. Theo ông, thật nghịch lý khi mà lãi suất huy động thực tế lên tới 17-18% nhưng trong sổ kế toán thì chỉ được ghi là 14% vì đây là lãi suất trần huy động. Còn với lãi suất cho vay cao ngất như hiện nay, các doanh nghiệp nói rằng, chỉ còn hai cách, một  là đẩy công nhân ra ngoài đường, hai là đi buôn đất".
Phác thảo sơ lược về những ứng xử chính sách kinh tế trong nước, báo cáo nghiên cứu còn đánh giá, năm nay không gian chính sách vĩ mô còn đặt nền kinh tế vào thế bất lợi hơn nhiều so với năm 2008. Đó là năm xảy ra lạm phát cao nhất, bắt đầu khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng khi đó, ngân sách chưa bị thâm hụt sâu, chính sách tài khóa còn có thể linh hoạt thay đổi mức độ thu - chi. Lạm phát tuy bùng cao nhưng lãi suất lúc đó chưa cao và khả năng tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát là chấp nhận được.
Thêm vào đó, dự trữ ngoại hối năm 2008 là đỉnh điểm, có thể can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối.
Còn năm nay, chúng ta bắt đầu hứng chịu những hệ lụy chính sách của 2 năm trước. Năm 2009, do sử dụng công cụ tài khóa mạnh mẽ nên nợ công tăng cao, thâm hụt ngân sách cũng cao. Tiếp đó, năm 2010, chúng ta lại sử dụng chính sách mạnh can thiệp về tiền tệ như nâng lãi suất cao, thắt chặt cung tiền và tín dụng, giảm dự trữ ngoại hối để bình ổn tỷ giá.
Hậu quả là đến năm 2011, không gian còn lại của chính sách tiền tệ và tài khóa đã bị thu hẹp và khó mà có thể tận dụng điều chỉnh với qui mô lớn được nữa. Đây là căn nguyên khiến cho 4 tháng đầu năm 2011, Chính phủ đã phải sử dụng nhiều công cụ hành chính quyết liệt để can thiệp thị trường.
Với các phân tích trên, TS Nguyễn Đức Thành bày tỏ, kiến nghị lớn nhất cho năm 2011 là cần nghiêm túc thực hiện đúng Nghị quyết 11, kiên trì với chủ trương thắt chắt tài khóa, tiền tệ. Kỷ luật tài khóa có ý nghĩa sống còn cho sự hồi phục sức mạnh của nền kinh tế.

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

LẠM PHÁT NHÌN TỪ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ VÀ CƠ CẤU KINH TẾ

Lạm phát nhìn từ hiệu quả đầu tư và cơ cấu kinh tế
SGTT.VN - Hai nguyên nhân sâu xa gây ra lạm phát là hiệu quả sản xuất (đầu tư) thấp và cơ cấu kinh tế chưa phù hợp. Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP về cắt giảm đầu tư công và ổn định kinh tế vĩ mô là thích hợp và cần thiết, nhưng chúng ta cần thực hiện nghị quyết này một cách đồng bộ với các chính sách phát triển kinh tế khác. Chỉ như vậy mới có thể làm giảm lạm phát, tăng hiệu quả đầu tư.
Giá xăng tăng liên tục đã góp phần đẩy lạm phát lên cao. Ảnh: Từ An
Theo số liệu thống kê, lạm phát của Việt Nam đang ở mức cao nhất trong vòng hai năm qua: tính đến tháng 4 năm 2011, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của cả nước so với tháng 12 năm 2010 là 9,64%.
Theo tính toán của nhóm nghiên cứu chúng tôi từ cấu trúc chi phí từ bảng bảng cân đối liên ngành 2007, thì ảnh hưởng lan toả đến giá cả của nền kinh tế từ việc tăng giá năng lượng như điện, xăng và than gần đây vào khoảng 4,8%; nếu bao gồm cả ảnh hưởng của tăng tỷ giá thì ảnh hưởng lan toả đến CPI vào khoảng trên 5%. Như vậy, có thể thấy nguyên nhân của lạm phát một phần là do chi phí đẩy, nhưng còn có nguyên nhân khác.
Hiệu quả đầu tư kém
Hiệu quả đầu tư thể hiện qua hệ số ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư). ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng thấp. Theo một tính toán của chúng tôi, giai đoạn 2006 – 2010, hệ số ICOR của khu vực Nhà nước vào khoảng 10,2 của khu vực FDI là trên 9,7, trong khi của khu vực tư nhân chỉ là 5. Điều này có nghĩa ở khu vực Nhà nước và khu vực FDI phải bỏ ra trên dưới 10 đồng vốn đầu tư mới thu được một đồng tăng trưởng.
Những năm gần đây đầu tư 1 đồng thì chỉ còn 0,66 đồng tạo thành tích luỹ tài sản và số tiền không tạo thành tài sản tăng lên 0,34 đồng (năm 2000, các con số này lần lượt là 0,7 và 0,3 đồng). Như vậy, lượng cung tiền sẽ tăng lên do lượng tiền bỏ ra nhằm mục đích đầu tư lại không đi vào đầu tư.
Đóng góp của yếu tố vốn vào tăng trưởng giai đoạn 2006 – 2010 chiếm tới trên 65%. Điều này cho thấy nền kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, ít dựa vào các yếu tố về chất lượng tăng trưởng khác như công nghệ, kinh tế trí thức, trình độ quản lý v.v Trong tổng vốn đầu tư xã hội, đây là hai khu vực chiếm tỷ lệ cao nhất (năm 2009 chiếm 40,6% và 33,9% theo số liệu của tổng cục Thống kê).
Ngoài ra, khi bỏ một lượng tiền rất lớn để đầu tư mà chỉ một phần trong đó tạo ra tài sản, thì lượng cung tiền sẽ lớn lên, làm trầm trọng thêm sự mất cân đối tiền – hàng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nếu năm 2000 bỏ ra một đồng thì có khoảng 0,7 đồng tạo thành tài sản và 0,3 đồng không tạo thành tài sản (tích luỹ gộp tài sản). Tuy nhiên, những năm gần đây đầu tư 1 đồng thì chỉ còn 0,66 đồng tạo thành tích luỹ tài sản và số tiền không tạo thành tài sản tăng lên 0,34 đồng. Như vậy, lượng cung tiền sẽ tăng lên do lượng tiền bỏ ra nhằm mục đích đầu tư lại không đi vào đầu tư.
Cần đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp và thủy sản, và ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản bởi vì các ngành này có đóng góp đáng kể vào GDP của Việt Nam. Ảnh: Phạm Anh
Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP với sáu nhóm giải pháp nhằm chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội, trong đó cắt giảm đầu tư công là giải pháp quan trọng . Điều này thực sự đúng đắn nhưng chưa đủ: một mặt cần cắt giảm những công trình/dự án kém hiệu quả; mặt khác cần tăng cường đầu tư cho các công trình/dự án đang mang lại những hiệu quả thiết thực cho đất nước. Theo nguyên lý kể cả từ các hàm tổng cung hoặc từ các quan hệ kiểu Keynes – Leontief, thì việc cắt giảm đầu tư sẽ dẫn đến thu hẹp về sản lượng và dẫn đến làm giảm GDP. Tuy không đặt vấn đề tăng trưởng GDP là quan trọng, nhưng nếu hiệu quả đầu tư vẫn như vậy thì quan hệ tiền – hàng sẽ không được cải thiện, thậm chí còn căng thẳng thêm. Như vậy, cần có sự rà soát và phân loại các công trình/dự án hiệu quả và không hiệu quả trước khi ra quyết định đầu tư hoặc cắt giảm đầu tư.
Đối với khối doanh nghiệp tư nhân (không kể FDI) tuy làm ăn có hiệu quả, nhưng lại đang gặp khó khăn trong tiếp cận đồng vốn, nhất là trong bối cảnh Chính phủ chủ trương thắt chặt tiền tệ. Việc duy trì sản xuất của khu vực này là rất khó khăn, họ phải xoay xở bằng nhiều hình thức. Nhưng dù bằng hình thức nào, thì tỷ lệ chi phí trung gian so với giá trị sản xuất sẽ tăng, dẫn đến hiệu quả sản xuất sẽ sụt giảm. Như vậy, Nhà nước cũng cần ra soát lại cả khu vực này, nhằm hỗ trợ cho những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thực sự đang gặp khó khăn.
Cơ cấu kinh tế không hợp lý
Cần có sự rà soát và phân loại các công trình/dự án hiệu quả và không hiệu quả trước khi ra quyết định đầu tư hoặc cắt giảm đầu tư. Ảnh: Ca Hảo
Khu vực kinh tế Nhà nước được đầu tư nhiều nhất, chiếm khoảng 40% tổng đầu tư xã hội, đóng góp cho GDP 34%, chỉ sử dụng khoảng 9% lượng lao động. Trong khi đó, khu vực ngoài nhà nước đóng góp tới 47% GDP và sử dụng tới 87% lao động, nhưng lại chỉ nhận được 32% tổng vốn đầu tư. Khu vực kinh tế tư nhân trong nước, mặc dù hiện chỉ đóng góp 10% GDP và sử dụng 7% số lao động, song lại làm ăn có hiệu quả cao hơn hẳn với doanh thu thuần gấp ba lần so với khu vực doanh nghiệp Nhà nước và trên 2,5 lần so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Tương tự, cơ cấu vốn đầu tư cũng có sự lệch lạc khi dành một lượng vốn đầu tư tập trung vào Khu vực II (công nghiệp - xây dựng) trong khi Việt Nam là một đất nước có gần 3/4 dân số và người lao động đang sống ở các vùng nông thôn. Trong cơ cấu nền kinh tế, Khu vực I (nông, lâm nghiệp và thủy sản) tuy chỉ đóng góp khoảng 15 - 16% vào GDP nhưng lại sử dụng tới 53,9% lực lượng lao động. Theo báo cáo của Chính phủ, trong số 18 sản phẩm xuất khẩu chủ lực năm 2010 đạt doanh số trên 1 tỷ USD có đóng góp đáng kể của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Ví dụ: xuất khẩu thủy sản đứng thứ ba với gần 5 tỷ USD, gỗ và sản phẩm gỗ đứng thứ sáu với 3,4 tỷ USD, gạo đứng thứ bảy với 3,2 tỷ USD. Những mặt hàng xuất khẩu quan trọng khác của khu vực kinh tế này là cao su 2,4 tỷ USD; cà phê 1,8 tỷ USD; hạt điều trên 1,1 tỷ USD. Trong khi đó, việc tiêu thụ sản phẩm của khu vực công nghiệp chế biến chế tạo trong nước hoặc xuất khẩu gây nên nhập khẩu tăng cao, khu vực này chính là nguyên nhân của nhập siêu trong những năm qua.
Nên xem xét tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam theo hướng tận dụng nội lực, cần đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp và thủy sản, và ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản
Về khu vực FDI, ngoài những vấn đề như… chuyển giá, thì một vấn đề quan trọng nữa là khi vào Việt Nam hầu hết các doanh nghiệp FDI đều nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất. Các sản phẩm làm ra chứa hàm lượng lớn các yếu tố nhập khẩu. Do đó, dù các sản phẩm do khu vực này làm ra được xuất khẩu hay tiêu dùng trong nội địa thì Việt Nam vẫn chỉ đóng vai trò gia công giá rẻ mà thôi[3].
Như vậy, để có thể giảm lạm phát, và quan trọng hơn cả là có được một nền kinh tế phát triển bền vững, nên xem xét tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam theo hướng tận dụng nội lực phù hợp với những khả năng, thế mạnh và nguồn lực của chính mình. Cần đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp và thủy sản, và ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản bởi vì các ngành này có đóng góp đáng kể vào GDP của Việt Nam. Hơn nữa, đây là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh tiềm ẩn khủng hoảng lương thực và thực phẩm toàn cầu hiện nay. Các chuyên gia cấp cao của các nước châu Âu đã đề nghị ngân hàng Phát triển châu Á trong những thập niên tới ủng hộ mạnh mẽ hơn cho các định chế tài chính hỗ trợ tích cực và hiệu quả cho phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao nhằm tăng khả năng ứng phó với mất an ninh lương thực toàn cầu, và góp phần giảm nghèo trong các nước khu vực châu Á đang có 900 triệu người sống dưới ngưỡng nghèo đói.
Trung tâm Nghiên cứu chính sách phát triển bền vững (CSDP)[1]