Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

“Tàu Trung Quốc phá hoại tàu địa chấn của Việt Nam là ngang ngược"

“Tàu Trung Quốc phá hoại tàu địa chấn của Việt Nam là ngang ngược"
SGTT.VN - Sáng 26.5, các tàu hải giám Trung Quốc đã cản trở và cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 (Petro Việt Nam), cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý, vi phạm lãnh hải Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của Petro Việt Nam.
Ngày 27.5, trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí tại Hà Nội, phó tổng giám đốc tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) Đỗ Văn Hậu đã thông báo việc sáng 26.5, các tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của PVN.

Thực hiện kế hoạch PVN đã phê duyệt chương trình thăm dò khai thác dầu khí năm 2011, tổng công ty dịch vụ kỹ thuật Dầu khí, một thành viên của PVN, đã cử tàu địa chấn Bình Minh 02 triển khai khảo sát địa chấn tại khu vực lô 125, 126, 148, 149 ở thềm lục địa miền Trung của Việt Nam.

Cả 4 lô này đều nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tàu địa chấn Bình Minh 02 đã khảo sát hai đợt tại đây, đợt 1 vào năm 2010 và đợt 2 bắt đầu từ ngày 17.3.2011. Quá trình khảo sát những ngày vừa qua được tiến hành trôi chảy và tàu Bình Minh đã thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

Tuy nhiên, vào lúc 5 giờ 5 phút ngày 26.5, radar tàu địa chấn Bình Minh 02 đã phát hiện có tàu lạ đang chuyển động rất nhanh về phía khu vực khảo sát và sau đó 5 phút thì phát hiện tiếp 2 tàu nữa đi từ phía ngoài vào. Đó là ba tàu hải giám của Trung Quốc chạy thẳng vào khu vực khảo sát mà không có cảnh báo.

Trên cơ sở tốc độ di chuyển của tàu hải giám Trung Quốc, tàu Bình Minh thấy có khả năng sẽ ảnh hưởng đến thiết bị của tàu nên đã quyết định hạ thấp thiết bị để tránh thiệt hại.

Vào lúc 5 giờ 58 phút, tàu hải giám Trung Quốc đã chủ động chạy qua khu vực thả dây cáp, cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02. Vị trí mà ba tàu hải giám Trung Quốc phá hoại thiết bị của tàu Bình Minh 02 của PVN, chỉ cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý, nằm hoàn toàn trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Phó tổng giám đốc PVN cho biết thêm ba tàu hải giám Trung Quốc đã làm ảnh hưởng, cản trở hoạt động bình thường của tàu địa chấn Bình Minh 02; sau đó tiếp tục uy hiếp tàu Bình Minh 02, thông báo là tàu Bình Minh đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Nhưng tàu Bình Minh của PVN bác bỏ luận điệu của tàu hải giám Trung Quốc và khẳng định rằng tàu Bình Minh đang nằm trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam.


Vị trí tàu địa chấn Bình Minh 02 bị ba tàu hải giám Trung Quốc phá hoại. Ảnh: TTXVN

Tuy nhiên, việc tiếp tục công việc ngay lúc đó của tàu Bình Minh 02 vẫn bị ba tàu Hải giám Trung Quốc cản trở cho tới 9 giờ sáng 26.5 khi 3 tàu này rời khỏi khu vực khảo sát.

Tàu Bình Minh 02 và các tàu bảo vệ đã phải dừng công việc trong ngày 26.5 và thu lại các thiết bị bị hỏng để sửa chữa. Dưới sự chỉ đạo của PVN và tổng công ty dịch vụ kỹ thuật Dầu khí, tàu Bình Minh 02 đã sửa chữa thiết bị tại chỗ và tới 6 giờ sáng nay 27.5, tàu Bình Minh 02 đã trở lại hoạt động.

Phó tổng giám đốc PVN khẳng định việc các tàu hải giám Trung Quốc vào rất sâu trong lãnh hải của Việt Nam để phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của PVN là một hành động hết sức ngang ngược, vi phạm trắng trợn đối với quyền chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của PVN.

PVN đã báo cáo và đề nghị Chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có các biện pháp phản đối mạnh mẽ nhất có thể đối với phía Trung Quốc; yêu cầu phía Trung Quốc dừng ngay các hành động cản trở hoạt động của PVN, đồng thời hỗ trợ PVN thực hiện nhiệm vụ thăm dò, khai thác của mình. PVN khẳng định các công việc khảo sát địa chấn ở khu vực này sẽ được tiến hành bình thường vì đây là khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam. PVN sẽ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để bảo đảm cho hoạt động của tàu Bình Minh 02 được hiệu quả, an toàn.

Tàu địa chấn Bình Minh 02 được PVN đầu tư trang bị từ năm 2008 và đã tiến hành các đợt khảo sát trên vùng thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Bộ Ngoại giao trao công hàm phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam
Chiều 27.5, một quan chức bộ Ngoại giao cho biết, đại diện của bộ đã gặp đại diện đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để trao công hàm phản đối việc tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 2, thuộc tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong thềm lục địa của Việt Nam.
Trong công hàm này, Việt Nam phản đối hành động nói trên của phía Trung Quốc, yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời phải bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam.
Nội dung công hàm cũng nêu rõ hành động nói trên của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa, vi phạm Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc. Hành động này trái với tinh thần và lời văn của Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), cũng như nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam và Trung Quốc về việc không làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông.
Bộ Ngoại giao xác nhận, vào lúc 5h58’ sáng ngày 26.5, trong khi tàu Bình Minh 2 đang khảo sát tại lô 148 trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam đã bị 3 tàu hải giám số 12, 17 và 84 của Trung Quốc cắt cáp thăm dò. Tọa độ bị cắt cáp ở vị trí 12o48’25” Bắc và 111o26’48” Đông, cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) khoảng 120 hải lý.
Việt Anh
Theo TTXVN

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Vụ chìm tàu Dìn Ký: Trách nhiệm thuộc về ai?

Vụ chìm tàu Dìn Ký: Trách nhiệm thuộc về ai?
SGTT.VN - Đã hai ngày sau khi vụ tai nạn làm chìm tàu du lịch hai tầng Dìn Ký xảy ra tại ấp Bình Thuận, xã Bình Nhâm, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương khiến 16 người chết, nhưng chưa đơn vị nào của tỉnh Bình Dương lên tiếng nhận trách nhiệm.
“Nếu quản lý chặt, tàu sẽ không bị chìm”
Khu vực bến tàu trong khu du lịch Dìn Ký không có giấy phép hoạt động nhưng vẫn tồn tại nhiều năm nay. Ảnh: Từ An
Chiều 21.5, trao đổi với báo chí, ông Trần Văn Nam, phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương nhận định ban đầu về nguyên nhân của vụ tai nạn chìm tàu là do một cơn lốc đột ngột đi qua khiến con tàu bị xô ngã qua một bên và chìm xuống lòng sông Sài Gòn.
Sáng qua 22.5, sau khi trục vớt con tàu thành công, lực lượng công an đang tiến hành điều tra. Theo một cán bộ Cục đường sông Việt Nam, tàu BD 0394 (tài xảy ra tai nạn) có chiều dài khoảng 27m, chiều rộng thân tàu 4,5m nhưng chiều cao lên đến gần 6m và được bố trí thành hai tầng, thân tàu bằng gỗ hoàn toàn. “Khi cấp phép cho tàu này hoạt động dịch vụ du lịch thì đơn vị cấp phép đã không lường trước tình huống xảy ra tương tự. Về phía chủ tàu có biểu hiện cơi nới tàu lên cao hơn. Về nguyên tắc, chiều cao của tàu không vượt quá chiều rộng của thân tàu, hơn nữa đây là tàu gỗ… Khi các cửa bị đóng sẽ tạo nên một tấm chắn gió, vô tình khiến tàu không thể đứng vững giữa gió lớn. Về việc này, rõ ràng phải xem về trách nhiệm của khâu quản lý và cấp phép. Nếu quản lý chặt, tàu sẽ không bị chìm”, cán bộ này nhận định.
Trong khi đó, theo kết quả điều tra ban đầu, tàu BD 0394 đã hết hạn đăng kiểm từ ngày 28.1.2011. "Khi hết hạn đăng kiểm, chủ phương tiện phải là người đầu tiên đưa tàu đi kiểm định. Việc kiểm tra và xử phạt do CSGT và thanh tra giao thông đường thủy thực hiện. Còn trường hợp tàu không được đăng ký kiểm định, tài công không được đào tạo và cấp giấy phép theo quy định thì khi xảy ra tai nạn, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện đó gây ra”, ông Đàm Trọng Cường, phó giám đốc sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương nói.  
“Con voi chui lọt lỗ kim”
Vẫn chưa có đơn vị nào lên tiếng nhận trách nhiệm vụ chím tàu nhà hàng Dìn Ký. Ảnh: Từ An
Cho đến chiều 22.5, trong khi cơ quan chức năng tỉnh Bình Dương đang điều tra xác định trách nhiệm và vai trò của các bên liên quan, vẫn chưa một đơn vị nào lên tiếng nhận trách nhiệm vụ việc.
Ông Phạm Văn Duy, giám đốc cảng vụ đường thủy nội địa Khu vực 3 cho biết, bến tàu du lịch của nhà hàng Dìn Ký hoạt động không có giấy phép. Theo quy định, đối với những nơi hoạt động cảng, bến thủy nội địa… có chức năng đưa, đón hành khách lên xuống phương tiện chở khách… đều phải được cấp phép hoạt động, phương tiện phải được kiểm định. “Thế nhưng, cầu phao của khu du lịch sinh thái này được làm bằng thùng phuy nên không đủ điều kiện cấp phép. Ngoài ra bản thân tàu BD 0394 cũng đã hết hạn kiểm định nhưng chủ phương tiện không đưa đi kiểm định”, ông Duy xác nhận.
Chiều cùng ngày, ông Đàm Trọng Cường, phó giám đốc sở Giao thông vận tải (GTVT) tỉnh Bình Dương cho rằng, về hoạt động cấp phép du lịch do sở Văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Bình Dương đảm trách. Còn về chức năng của sở GTVT chỉ cấp biển số tàu (giấy phép đăng ký) khi tất cả các giấy tờ kiểm định chất lượng… đã hoàn thành. “Ngoài ra, chúng tôi có trách nhiệm kiểm tra và thanh tra hoạt động của tàu, nếu tàu vi phạm luật giao thông thủy sẽ bị phạt. Riêng tàu BD 0394 chúng tôi đã một lần xử phạt về lỗi hết thời hạn kiểm định và yêu cầu chủ phương tiện đưa tàu đi kiểm định, nhưng chủ tàu vẫn lén lút hoạt động đến khi xảy ra sự cố”, ông Cường cho biết.
Một câu hỏi đặt ra, vì sao khu du lịch Dìn Ký hoạt động đã nhiều năm nhưng khu vực bến tàu lại không có giấy phép hoạt động, trong khi phương tiện (tàu du lịch) lại được cấp phép hoạt động?
Từ An – Đào Lê

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

Giám sát nợ: những câu hỏi bỏ ngỏ

Giám sát nợ: những câu hỏi bỏ ngỏ

SGTT.VN - Đến thời điểm này, vẫn còn những câu hỏi bỏ ngỏ quanh nội dung thông tư 56/2011/TT-BTC của bộ Tài chính mới ban hành, có hiệu lực từ 1.8.2011, về việc hướng dẫn phương pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát và tổ chức hoạt động giám sát nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia.
Điều 11 của dự thảo thông tư này (được đưa ra để lấy ý kiến đóng góp trên website của bộ Tài chính) liên quan đến việc xác định hạn mức vay nợ nước ngoài đã không còn được thể hiện trong bản chính thức được ban hành. Trong khi, đây vốn là điểm rất quan trọng và thể hiện sự minh bạch của cơ chế điều hành và quản lý nợ công.
Theo điều 11 của dự thảo, phương pháp xác định hạn mức vay nước ngoài gồm ba bước: xác định tỷ lệ vay nước ngoài so với GDP của năm kế hoạch; tổng dư nợ nước ngoài đến cuối năm kế hoạch; và tổng mức vay hay còn gọi là hạn mức vay năm kế hoạch.

Với tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn năm năm tới vào khoảng 7 – 7,5% theo như các công bố gần đây của lãnh đạo bộ Kế hoạch và đầu tư, và lãi suất bình quân gia quyền các khoản vay nước ngoài hiện vào khoảng 3%, ước tính mỗi năm tỷ lệ vay nước ngoài so với GDP sẽ tăng khoảng 2% và đến cuối năm 2015 sẽ chạm mức 50% GDP. Đây cũng là mức trần khống chế theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Áp vào tiêu chí đánh giá nợ nước ngoài của ngân hàng Thế giới thì chỉ tiêu trên thuộc vào mức “trầm trọng”.

Với kịch bản này, vấn đề cần đặt ra tiếp theo là liệu có phải cơ quan quản lý đang muốn hợp pháp hoá mức tăng nợ nước ngoài vốn đang trong xu hướng đi lên rất nhanh? Các con số đáng lưu ý là nợ công so với GDP đã tăng từ 36% năm 2001 lên 56,7% vào năm 2010; nợ nước ngoài từ 2007 đến cuối năm 2009 đã tăng thêm gần 7%, lên mức 39% GDP. Thứ đến, tỷ lệ vay nước ngoài so với GDP thời gian tới có đáng lo ngại không với cách xác định và điều hành quy định tại thông tư này? Hơn nữa, có còn cơ chế nào để ràng buộc các cơ quan quản lý, giám sát và điều hành nợ nước ngoài giữ mức rủi ro nợ chấp nhận được và họ có động lực làm việc này không? Cuối cùng, tính ổn định của nợ, rủi ro nợ sẽ thế nào với cách thức xác định hạn mức nợ này, đặc biệt là sau năm 2015?
Một điểm đáng chú ý khác, dù dự thảo không tồn tại nhưng thông tư vừa được ban hành, trong điều 11 về tổ chức điều hành hạn mức vay nước ngoài lại xuất hiện nội dung quy định các doanh nghiệp phải gửi đăng ký nhu cầu vay vốn nước ngoài cho năm sau trước thời hạn 31.12 cho bộ Tài chính (đối với các khoản vay đề xuất có bảo lãnh của Chính phủ) và cho ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đối với các khoản vay không có bảo lãnh của Chính phủ). Câu hỏi đặt ra là liệu quy định này có làm nảy sinh cơ chế xin – cho? Tiêu chí nào được chọn là ưu tiên khi phê duyệt kế hoạch vay nước ngoài của doanh nghiệp: số dư nợ dự kiến, điều kiện vay, hay khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi…? Trong khi đó, tham chiếu nghị định 79/2010/NĐ-CP (mà thông tư 56 này là văn bản hướng dẫn) về nghiệp vụ quản lý nợ công thì không thấy nhắc đến việc doanh nghiệp phải gửi đăng ký, hay trình dự án và kế hoạch vay, trả nợ.
Vũ Anh

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

LẠM PHÁT CÓ THỂ 18,2% NĂM 2011

Lúng túng ở "ngã ba đường", lạm phát có thể 18,2%
(VEF.VN) - Nếu Chính phủ kiên định làm đúng 6 giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết 11, lạm phát cả năm 2011 thấp nhất cũng là 15,5%. Còn nếu Chính phủ "không kiên nhẫn", lạm phát có thể tăng tới 18,2%.
Lạm phát năm 2011 không thể thấp hơn 15%
Công bố dự báo này, TS. Nguyễn Đức Thành, chủ biên của Báo cáo Kinh tế Việt Nam năm 2011 (Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách - VEPR, ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội) công bố sáng 17/5,  thẳng thắn nói: "Các kịch bản về lạm phát này là rất bi quan. Chúng tôi lấy tiêu chí về mặt kinh tế chứ không theo chỉ tiêu của Chính phủ và Quốc hội. Cho tới nay, dự báo CPI này có thể coi là cao nhất so với các tổ chức nghiên cứu khác".
Chưa khi nào, chỉ số lạm phát lại có vẻ khó đoán như năm nay. Liệu nền kinh tế có rơi vào trạng thái "siêu lạm phát" như hồi năm 2008 hay không? Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2011 rốt cục sẽ là bao nhiêu?
Thật khó nói trước được con số nào khi mà từ đầu năm đến nay, đã có những dự báo lạm phát Việt Nam được đưa ra và nhanh chóng bị lạc hậu.
Đầu năm, các chuyên gia kinh tế chỉ dám "lấp lửng" CPI sẽ tầm khoảng 9-10%. Cuối tháng 3, Ngân hàng Thế giới lạc quan nói, CPI Việt Nam chỉ ở mức 9,3%. Nhưng không ngờ, đúng 1 tháng sau, CPI tháng 4 (so với tháng 12/2010) đã là 9,64%. Họp thường kỳ Chính phủ tháng 4, Thủ tướng đã chỉ đạo kiềm lạm phát với mốc giới hạn đã lên tới 12-13%. Ngân hàng ANZ mới đây cũng chỉ dám "đoán" CPI của Việt Nam là 13,5%.

Báo cáo của VEPR dự báo Việt Nam khó kiềm chế lạm phát dưới 15% (ảnh Phạm Huyền)

Vì lẽ đó, con số 15-18% của Trung tâm VEPR cao cách biệt so với mọi công bố trên là thời sự nhất, cũng khiến khá nhiều người tin rắng, có vẻ là con số  nói "thật" nhất.
TS. Nguyễn Đức Thành chia sẻ: "Ở kịch bản CPI là 15,5%, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ là 6,2%. Chúng tôi tính toán với giả thiết Chính phủ chấp nhận nhiều cú sốc về giá, điều chỉnh lớn giá các mặt hàng nguyên liệu đầu vào và thực hiện theo đúng Nghị quyết 11".
"Tuy nhiên, chúng tôi e ngại sự kiên nhẫn của Chính phủ với gói giải pháp thắt chặt tài khóa tiền tệ theo Nghị quyết 11 hiện nay. Thông thường tới quý III, cộng với sức ép của dư luận doanh nghiệp, xã hội, điều hành kinh tế lại chuyển sang hướng nới lỏng. Vì thế, lạm phát theo kịch bản này có thể là hơn 18%, hiệu ứng tăng trưởng kinh tế cao hơn tương ứng là 6,5%. Tuy nhiên, kèm theo đó sẽ là những bất ổn, rủi ro và lạm phát nằm ngoài tầm kiểm soát", vị chuyên gia này nói.
Vì sao nền kinh tế đứng trước ngã ba đường?
Nói rằng nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường, có lẽ, những nhà quản lý, hoạch định chính sách hiện nay sẽ cảm thấy chạnh lòng hơn hết. Ngã ba đường ấy không thể đổ lỗi cho sự quá độ từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Sòng phẳng hơn, đó là do cách điều hành thiếu dài hơi và có phần lạm dụng mệnh lệnh hành chính đối với một nền kinh tế mở như Việt Nam.
TS. Nguyễn Đức Thành cắt nghĩa: "Các vấn đề kinh tế hiện nay đều ở thời điểm mang tính bước ngoặt, phải lựa chọn nhiều mục tiêu. Ví dụ như mô hình kinh tế hiện nay bắt nguồn sâu xa từ giai đoạn trước, dựa trên nền tảng lấy doanh nghiệp Nhà nước là chủ đạo, coi các Tập đoàn kinh tế Nhà nước là trụ cột chính. Đến nay, mô hình này rõ ràng đang gây nhiều tranh cãi bởi nó khiến cho nguồn lực phân bổ không đồng đều, rủi ro ngày càng hiện hữu".
Một ví dụ khác là câu chuyện giằng xé mục tiêu giữa một bên là tăng trưởng kinh tế với một bên là thực tế năng động của đời sống kinh tế toàn cầu. Khi cứ lúng túng ở ngã ba đường, rất khó làm chính sách. Cơ chế phân cấp như thế nào cho hiệu quả cũng đang phải bàn lại rất nhiều, vì liên quan đến việc kiểm soát tài sản quốc gia...
"Trong bối cảnh này, niềm tin và sức chịu đựng của cộng đồng doanh nghiệp giảm mạnh", ông Thành nói.

Các DN sản xuất gặp nhiều khó khăn do lãi suất tăng cao (ảnh Phạm Huyền)

Chia sẻ xung quanh báo cáo kinh tế trên, TS. Lê Xuân Nghĩa nhận xét, trong điều hành kinh tế chưa hài hòa, khi thắt chặt thì lại chặt quá, đến lúc phải nới lỏng thì doanh nghiệp cũng phải mất 3-4 tháng mới hồi sức được.
Không chỉ vậy, ông Nghĩa còn cho rằng, chính sách lãi suất hiện nay chính là nguyên nhân đẩy càng ngân hàng rơi vào cảnh có hai hệ thống kế toán. Theo ông, thật nghịch lý khi mà lãi suất huy động thực tế lên tới 17-18% nhưng trong sổ kế toán thì chỉ được ghi là 14% vì đây là lãi suất trần huy động. Còn với lãi suất cho vay cao ngất như hiện nay, các doanh nghiệp nói rằng, chỉ còn hai cách, một  là đẩy công nhân ra ngoài đường, hai là đi buôn đất".
Phác thảo sơ lược về những ứng xử chính sách kinh tế trong nước, báo cáo nghiên cứu còn đánh giá, năm nay không gian chính sách vĩ mô còn đặt nền kinh tế vào thế bất lợi hơn nhiều so với năm 2008. Đó là năm xảy ra lạm phát cao nhất, bắt đầu khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng khi đó, ngân sách chưa bị thâm hụt sâu, chính sách tài khóa còn có thể linh hoạt thay đổi mức độ thu - chi. Lạm phát tuy bùng cao nhưng lãi suất lúc đó chưa cao và khả năng tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát là chấp nhận được.
Thêm vào đó, dự trữ ngoại hối năm 2008 là đỉnh điểm, có thể can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối.
Còn năm nay, chúng ta bắt đầu hứng chịu những hệ lụy chính sách của 2 năm trước. Năm 2009, do sử dụng công cụ tài khóa mạnh mẽ nên nợ công tăng cao, thâm hụt ngân sách cũng cao. Tiếp đó, năm 2010, chúng ta lại sử dụng chính sách mạnh can thiệp về tiền tệ như nâng lãi suất cao, thắt chặt cung tiền và tín dụng, giảm dự trữ ngoại hối để bình ổn tỷ giá.
Hậu quả là đến năm 2011, không gian còn lại của chính sách tiền tệ và tài khóa đã bị thu hẹp và khó mà có thể tận dụng điều chỉnh với qui mô lớn được nữa. Đây là căn nguyên khiến cho 4 tháng đầu năm 2011, Chính phủ đã phải sử dụng nhiều công cụ hành chính quyết liệt để can thiệp thị trường.
Với các phân tích trên, TS Nguyễn Đức Thành bày tỏ, kiến nghị lớn nhất cho năm 2011 là cần nghiêm túc thực hiện đúng Nghị quyết 11, kiên trì với chủ trương thắt chắt tài khóa, tiền tệ. Kỷ luật tài khóa có ý nghĩa sống còn cho sự hồi phục sức mạnh của nền kinh tế.

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

LẠM PHÁT NHÌN TỪ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ VÀ CƠ CẤU KINH TẾ

Lạm phát nhìn từ hiệu quả đầu tư và cơ cấu kinh tế
SGTT.VN - Hai nguyên nhân sâu xa gây ra lạm phát là hiệu quả sản xuất (đầu tư) thấp và cơ cấu kinh tế chưa phù hợp. Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP về cắt giảm đầu tư công và ổn định kinh tế vĩ mô là thích hợp và cần thiết, nhưng chúng ta cần thực hiện nghị quyết này một cách đồng bộ với các chính sách phát triển kinh tế khác. Chỉ như vậy mới có thể làm giảm lạm phát, tăng hiệu quả đầu tư.
Giá xăng tăng liên tục đã góp phần đẩy lạm phát lên cao. Ảnh: Từ An
Theo số liệu thống kê, lạm phát của Việt Nam đang ở mức cao nhất trong vòng hai năm qua: tính đến tháng 4 năm 2011, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của cả nước so với tháng 12 năm 2010 là 9,64%.
Theo tính toán của nhóm nghiên cứu chúng tôi từ cấu trúc chi phí từ bảng bảng cân đối liên ngành 2007, thì ảnh hưởng lan toả đến giá cả của nền kinh tế từ việc tăng giá năng lượng như điện, xăng và than gần đây vào khoảng 4,8%; nếu bao gồm cả ảnh hưởng của tăng tỷ giá thì ảnh hưởng lan toả đến CPI vào khoảng trên 5%. Như vậy, có thể thấy nguyên nhân của lạm phát một phần là do chi phí đẩy, nhưng còn có nguyên nhân khác.
Hiệu quả đầu tư kém
Hiệu quả đầu tư thể hiện qua hệ số ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư). ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng thấp. Theo một tính toán của chúng tôi, giai đoạn 2006 – 2010, hệ số ICOR của khu vực Nhà nước vào khoảng 10,2 của khu vực FDI là trên 9,7, trong khi của khu vực tư nhân chỉ là 5. Điều này có nghĩa ở khu vực Nhà nước và khu vực FDI phải bỏ ra trên dưới 10 đồng vốn đầu tư mới thu được một đồng tăng trưởng.
Những năm gần đây đầu tư 1 đồng thì chỉ còn 0,66 đồng tạo thành tích luỹ tài sản và số tiền không tạo thành tài sản tăng lên 0,34 đồng (năm 2000, các con số này lần lượt là 0,7 và 0,3 đồng). Như vậy, lượng cung tiền sẽ tăng lên do lượng tiền bỏ ra nhằm mục đích đầu tư lại không đi vào đầu tư.
Đóng góp của yếu tố vốn vào tăng trưởng giai đoạn 2006 – 2010 chiếm tới trên 65%. Điều này cho thấy nền kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, ít dựa vào các yếu tố về chất lượng tăng trưởng khác như công nghệ, kinh tế trí thức, trình độ quản lý v.v Trong tổng vốn đầu tư xã hội, đây là hai khu vực chiếm tỷ lệ cao nhất (năm 2009 chiếm 40,6% và 33,9% theo số liệu của tổng cục Thống kê).
Ngoài ra, khi bỏ một lượng tiền rất lớn để đầu tư mà chỉ một phần trong đó tạo ra tài sản, thì lượng cung tiền sẽ lớn lên, làm trầm trọng thêm sự mất cân đối tiền – hàng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nếu năm 2000 bỏ ra một đồng thì có khoảng 0,7 đồng tạo thành tài sản và 0,3 đồng không tạo thành tài sản (tích luỹ gộp tài sản). Tuy nhiên, những năm gần đây đầu tư 1 đồng thì chỉ còn 0,66 đồng tạo thành tích luỹ tài sản và số tiền không tạo thành tài sản tăng lên 0,34 đồng. Như vậy, lượng cung tiền sẽ tăng lên do lượng tiền bỏ ra nhằm mục đích đầu tư lại không đi vào đầu tư.
Cần đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp và thủy sản, và ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản bởi vì các ngành này có đóng góp đáng kể vào GDP của Việt Nam. Ảnh: Phạm Anh
Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP với sáu nhóm giải pháp nhằm chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội, trong đó cắt giảm đầu tư công là giải pháp quan trọng . Điều này thực sự đúng đắn nhưng chưa đủ: một mặt cần cắt giảm những công trình/dự án kém hiệu quả; mặt khác cần tăng cường đầu tư cho các công trình/dự án đang mang lại những hiệu quả thiết thực cho đất nước. Theo nguyên lý kể cả từ các hàm tổng cung hoặc từ các quan hệ kiểu Keynes – Leontief, thì việc cắt giảm đầu tư sẽ dẫn đến thu hẹp về sản lượng và dẫn đến làm giảm GDP. Tuy không đặt vấn đề tăng trưởng GDP là quan trọng, nhưng nếu hiệu quả đầu tư vẫn như vậy thì quan hệ tiền – hàng sẽ không được cải thiện, thậm chí còn căng thẳng thêm. Như vậy, cần có sự rà soát và phân loại các công trình/dự án hiệu quả và không hiệu quả trước khi ra quyết định đầu tư hoặc cắt giảm đầu tư.
Đối với khối doanh nghiệp tư nhân (không kể FDI) tuy làm ăn có hiệu quả, nhưng lại đang gặp khó khăn trong tiếp cận đồng vốn, nhất là trong bối cảnh Chính phủ chủ trương thắt chặt tiền tệ. Việc duy trì sản xuất của khu vực này là rất khó khăn, họ phải xoay xở bằng nhiều hình thức. Nhưng dù bằng hình thức nào, thì tỷ lệ chi phí trung gian so với giá trị sản xuất sẽ tăng, dẫn đến hiệu quả sản xuất sẽ sụt giảm. Như vậy, Nhà nước cũng cần ra soát lại cả khu vực này, nhằm hỗ trợ cho những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thực sự đang gặp khó khăn.
Cơ cấu kinh tế không hợp lý
Cần có sự rà soát và phân loại các công trình/dự án hiệu quả và không hiệu quả trước khi ra quyết định đầu tư hoặc cắt giảm đầu tư. Ảnh: Ca Hảo
Khu vực kinh tế Nhà nước được đầu tư nhiều nhất, chiếm khoảng 40% tổng đầu tư xã hội, đóng góp cho GDP 34%, chỉ sử dụng khoảng 9% lượng lao động. Trong khi đó, khu vực ngoài nhà nước đóng góp tới 47% GDP và sử dụng tới 87% lao động, nhưng lại chỉ nhận được 32% tổng vốn đầu tư. Khu vực kinh tế tư nhân trong nước, mặc dù hiện chỉ đóng góp 10% GDP và sử dụng 7% số lao động, song lại làm ăn có hiệu quả cao hơn hẳn với doanh thu thuần gấp ba lần so với khu vực doanh nghiệp Nhà nước và trên 2,5 lần so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Tương tự, cơ cấu vốn đầu tư cũng có sự lệch lạc khi dành một lượng vốn đầu tư tập trung vào Khu vực II (công nghiệp - xây dựng) trong khi Việt Nam là một đất nước có gần 3/4 dân số và người lao động đang sống ở các vùng nông thôn. Trong cơ cấu nền kinh tế, Khu vực I (nông, lâm nghiệp và thủy sản) tuy chỉ đóng góp khoảng 15 - 16% vào GDP nhưng lại sử dụng tới 53,9% lực lượng lao động. Theo báo cáo của Chính phủ, trong số 18 sản phẩm xuất khẩu chủ lực năm 2010 đạt doanh số trên 1 tỷ USD có đóng góp đáng kể của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Ví dụ: xuất khẩu thủy sản đứng thứ ba với gần 5 tỷ USD, gỗ và sản phẩm gỗ đứng thứ sáu với 3,4 tỷ USD, gạo đứng thứ bảy với 3,2 tỷ USD. Những mặt hàng xuất khẩu quan trọng khác của khu vực kinh tế này là cao su 2,4 tỷ USD; cà phê 1,8 tỷ USD; hạt điều trên 1,1 tỷ USD. Trong khi đó, việc tiêu thụ sản phẩm của khu vực công nghiệp chế biến chế tạo trong nước hoặc xuất khẩu gây nên nhập khẩu tăng cao, khu vực này chính là nguyên nhân của nhập siêu trong những năm qua.
Nên xem xét tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam theo hướng tận dụng nội lực, cần đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp và thủy sản, và ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản
Về khu vực FDI, ngoài những vấn đề như… chuyển giá, thì một vấn đề quan trọng nữa là khi vào Việt Nam hầu hết các doanh nghiệp FDI đều nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất. Các sản phẩm làm ra chứa hàm lượng lớn các yếu tố nhập khẩu. Do đó, dù các sản phẩm do khu vực này làm ra được xuất khẩu hay tiêu dùng trong nội địa thì Việt Nam vẫn chỉ đóng vai trò gia công giá rẻ mà thôi[3].
Như vậy, để có thể giảm lạm phát, và quan trọng hơn cả là có được một nền kinh tế phát triển bền vững, nên xem xét tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam theo hướng tận dụng nội lực phù hợp với những khả năng, thế mạnh và nguồn lực của chính mình. Cần đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp và thủy sản, và ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản bởi vì các ngành này có đóng góp đáng kể vào GDP của Việt Nam. Hơn nữa, đây là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh tiềm ẩn khủng hoảng lương thực và thực phẩm toàn cầu hiện nay. Các chuyên gia cấp cao của các nước châu Âu đã đề nghị ngân hàng Phát triển châu Á trong những thập niên tới ủng hộ mạnh mẽ hơn cho các định chế tài chính hỗ trợ tích cực và hiệu quả cho phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao nhằm tăng khả năng ứng phó với mất an ninh lương thực toàn cầu, và góp phần giảm nghèo trong các nước khu vực châu Á đang có 900 triệu người sống dưới ngưỡng nghèo đói.
Trung tâm Nghiên cứu chính sách phát triển bền vững (CSDP)[1]

CẦN CÓ CHÍNH SÁCH MIỄN GIẢM THUẾ THU NHẬP CÁC NHÂN

Cần có chính sách miễn giảm ngay lập tức
SGTT.VN - Mới đây, ông Cao Ngọc Xuyên, phó chủ nhiệm uỷ ban Tài chính – ngân sách của Quốc hội trả lời báo chí rằng quan điểm của uỷ ban này là “luật Thuế thu nhập cá nhân mới được thực thi trong hai năm, vẫn phù hợp với thực tiễn và chưa nên sửa đổi vào lúc này”, “việc sửa luật cần phải thực hiện vào năm 2012 theo đúng kế hoạch” và sẽ được “trình Quốc hội vào kỳ họp thứ ba, Quốc hội khoá XIII”.
không có lý do gì để các cơ quan chức năng trì hoãn việc thực hiện chính sách mang lại phúc lợi cho người dân. Ảnh: Lê Quang Nhật
Ông này còn nói “mức miễn giảm thuế mà bộ Tài chính đưa ra chỉ từ 50.000 đến tối đa 250.000 đồng/tháng là quá nhỏ đối với người nộp thuế, nếu miễn giảm thì ngân sách nhà nước sẽ bị ảnh hưởng”. Quan điểm này khác xa kỳ vọng của nhiều người dân trong bối cảnh lạm phát tăng cao. Sài Gòn Tiếp Thị xin giới thiệu ý kiến của bạn đọc Hoàng Xuân Huy.
Người nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là những người có mức thu nhập đủ để chi tiêu cho bản thân, gia đình và một phần để tích luỹ. Phần tích luỹ này chính là phần chịu thuế TNCN.
Sửa luật càng nhanh càng tốt
Luật thuế TNCN có hiệu lực ngày 1.1.2009 đã xác định mức khởi điểm chịu thuế của một cá nhân là 4 triệu đồng/tháng, có nghĩa đây là mức đủ để mỗi cá nhân chi tiêu (bao gồm cả khoản dự phòng những rủi ro như ốm đau, mất mát tài sản…) trong một tháng. Tuy nhiên, như tôi đã đề cập trong bài viết Thuế thu nhập cá nhân: Vẫn có thể hỗ trợ nhiều hơn nữa (Sài Gòn Tiếp Thị số ra ngày 25.4.2011), mức lạm phát cao từ năm 2009 đến nay đã làm cho mức khởi điểm chịu thuế trên thực tế chỉ còn 3,2 triệu đồng/tháng. Nếu theo như kế hoạch đến năm 2013 mới có luật thuế TNCN mới thì với mức lạm phát theo ước tính lạc quan nhất của năm 2011 và 2012 lần lượt là 12% và 7%, mức khởi điểm tính thuế thực tế mà người dân phải chịu vào năm 2012 chỉ còn 2,8 triệu đồng/tháng. Đây là mức rất thấp không đủ để trang trải chi tiêu cho bản thân của người nộp thuế. Nếu để điều này xảy ra sẽ làm cho luật thuế TNCN phạm phải sai lầm: thể hiện tính tận thu rất cao của sắc thuế mà hậu quả của nó là làm tăng động cơ trốn thuế và ảnh hưởng đến việc tiết kiệm và đầu tư của người dân.
Do đó, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải sửa luật thuế TNCN càng nhanh càng tốt nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế của luật thuế từ việc giảm chi phí của những hành vi phản ứng đối với thuế.
Chia sẻ khó khăn trước mắt
Việc sửa đổi luật thuế TNCN là vấn đề quan trọng, cần có những tính toán mang tính dài hạn nhằm đảm bảo luật có “tuổi thọ” lâu dài, tránh tình trạng vài năm lại sửa đổi một lần sẽ làm tăng chi phí tuân thủ của người dân và chi phí hành thu của cơ quan thuế. Cần có thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình kinh tế, xã hội sắp tới nhằm đảm bảo luật thuế mới công bằng, hiệu quả và khả thi nhưng không thể quá lâu.
Mặt khác, như đã phân tích ở trên, luật thuế TNCN vốn đã lạc hậu do những thay đổi quá nhanh của kinh tế thời gian qua, đòi hỏi sự điều chỉnh ngay lập tức nhằm giảm tính tận thu của thuế và chia sẻ gánh nặng cho người nộp thuế.
Do đó, trong khi chờ đợi sửa luật thuế TNCN, các cơ quan chức năng cần ban hành ngay chính sách miễn giảm thuế phù hợp để đảm bảo tính công bằng, hiệu quả của luật thuế TNCN hiện hành.
Theo tính toán của tôi, hiện nay người có thu nhập là 5 triệu đồng/tháng phải nộp thuế là 50.000 đồng, nếu được miễn giảm sẽ tương đương với 1% thu nhập của họ. Còn theo tính toán của bộ Tài chính, ngân sách nhà nước sẽ giảm thu khoản 2.000 – 3.000 tỉ đồng, chỉ tương đương 0,43 – 0,65% tổng thu. Như vậy, khoản thu nhập từ miễn giảm thuế (nếu có) sẽ thiết thực hơn đối với người dân so với ngân sách nhà nước. Ngoài ra, những khoản miễn giảm thuế như thế, dù chỉ chiếm 1% hay thậm chí 0,1% thu nhập của người dân, cũng có ý nghĩa bởi vì nó thể hiện sự quan tâm, chia sẻ của Nhà nước trước những diễn biến khó khăn của nền kinh tế trong thời gian gần đây đối với người dân.
Một vướng mắc nhỏ có thể làm cho các cơ quan chức năng bận tâm trong đề xuất miễn giảm thuế của bộ Tài chính đó là tính công bằng. Cụ thể, giả sử người có mức thu nhập đến 5 triệu đồng/tháng được miễn giảm thuế, trong khi đó người có mức thu nhập trên 5 triệu đồng/tháng phải chịu thuế với mức khởi điểm là 4 triệu đồng/tháng. Những người có mức thu nhập trên 5 triệu đến 5,052632 triệu đồng/tháng sau khi nộp thuế sẽ có thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng, mức thu nhập mà đáng lẽ họ phải được miễn nộp thuế. Để khắc phục vấn đề này, chúng ta chỉ cần quy định rằng mức thuế tối đa mà người nộp thuế TNCN phải nộp không được làm cho thu nhập của họ dưới 5 triệu đồng/tháng. Như vậy, nếu chính sách này được thực thi thì vẫn sẽ không làm ảnh hưởng tính công bằng của luật thuế TNCN hiện tại.
Vì vậy, không có lý do gì để các cơ quan chức năng trì hoãn việc thực hiện chính sách mang lại phúc lợi cho người dân. Bên cạnh đó, đây cũng là thời điểm thích hợp để bắt tay ngay vào quá trình nghiên cứu, chỉnh sửa luật thuế TNCN. Điều này không chỉ thể hiện sự đi sâu đi sát của Nhà nước đối với cuộc sống của người dân mà còn thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta đó là nhà nước vì nhân dân.
Hoàng Xuân Huy

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2011

XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

Tăng trưởng Việt Nam cần động lực mới nào?
SGTT.VN - Sau phiên họp bàn về những động lực mới cho tăng trưởng của khu vực châu Á thập kỷ tới, trong khuôn khổ hội nghị thường niên ADB lần thứ 44 tại Hà Nội tuần qua, phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị đã trao đổi với một số diễn giả bên lề hội nghị.



Nếu không có tư nhân thì khó thành công
Một trong những thông điệp chính mà ADB đem đến hội nghị lần này là nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng của khu vực châu Á rất lớn, đồng nghĩa với cần đến nguồn vốn khổng lồ. Theo chủ tịch ADB Haruhiko Kuroda, từ nay đến 2020, châu Á – Thái Bình Dương cần khoản đầu tư khoảng 750 tỉ USD mỗi năm cho đầu tư cơ sở hạ tầng, cả phần cứng và phần mềm, tương đương tổng số vốn cần ở mức 8.000 tỉ USD.
Phát triển cơ sở hạ tầng rõ ràng là một trong những động lực phát triển cốt yếu của khu vực, nhưng chủ tịch ADB cũng khẳng định, “Chính phủ không thể làm một mình trong việc phát triển này”.
Với tư cách giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương, quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ông Anoop Singh cho rằng, thách thức lớn của khu vực chính là tìm nguồn vốn cho cơ sở hạ tầng. Các nước cần huy động sự tham gia của khu vực tư nhân, để chung tay với Chính phủ. Nếu không làm được điều đó thì sẽ khó thành công.
Với Việt Nam, ông Changyoung Rhee, chuyên gia kinh tế trưởng, ban Nghiên cứu và kinh tế của ADB nói, thời điểm này Việt Nam cần đầu tư cho cơ sở hạ tầng vật chất (hạ tầng cứng), được coi là động cơ chính cho tăng trưởng của các nước trong thập kỷ qua.
Mặc dù Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp nhưng vẫn chưa định dạng được phát triển cơ sở hạ tầng. Việc Chính phủ chỉ chọn một ngành công nghiệp và đầu tư trong thời gian dài có thể là sai lầm.
Theo ông Rhee, Việt Nam phải chú ý đến chất lượng cơ sở hạ tầng, đến chất lượng đầu tư ở lĩnh vực này. Muốn vậy, chính phủ cần thu hút được nguồn vốn của tư nhân tham gia cùng, hay còn gọi là mô hình hợp tác công tư (PPP). Đó có thể coi là một thách thức của Việt Nam.
Góp ý về vấn đề này, bà Tao Wang, chuyên gia kinh tế của ngân hàng đầu tư UBS AG nói, kinh nghiệm của Trung Quốc là chính phủ cần phải thúc đẩy mối hợp tác công tư trước, sau đó khu vực tư nhân nhận dạng và tham gia.
Trước đó, khi tham dự hội nghị cấp cao về kinh doanh tại Việt Nam (sự kiện mở đầu hội nghị thường niên ADB hôm 3.5), phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng công bố số vốn Việt Nam cần cho đầu tư cho phát triển giai đoạn 2011 – 2015 là khoảng 300 tỉ USD.
Quản trị cũng là một “nút thắt”
Nếu như chuyên gia kinh tế của ADB muốn Việt Nam chú trọng đến cơ sở hạ tầng phần cứng (đường sá, cầu, cảng…), thì đại diện của ngân hàng Standard Chartered lại nhấn mạnh đến cơ sở hạ tầng mềm.
Ông Gerard Lyons, chuyên gia kinh tế trưởng, kiêm trưởng nhóm nghiên cứu kinh tế toàn cầu của Standard Chartered đặc biệt lưu ý đến vấn đề kỹ năng của lao động Việt Nam và “sự quản trị đúng đắn” của Chính phủ. Ông Lyons cho rằng, thế giới biết đến Việt Nam có đội ngũ lao động trẻ, chăm chỉ nhưng vẫn là lao động có chi phí thấp, thiếu kỹ năng. Nếu nhìn vào nước láng giềng Trung Quốc, có thể thấy nước này đang hấp thu đầu tư của các công ty quốc tế bằng lao động có kỹ năng. Vì vậy, Việt Nam cần phải chú tâm vào cạnh tranh về mặt này.
Trả lời câu hỏi của Sài Gòn Tiếp Thị bên lề hội nghị, ông Lyons nói, bài học cho Việt Nam là cần học cách lên chính sách của mình phù hợp với nhu cầu trong nước, và tránh chính sách tiền tệ lỏng lẻo. Theo ông, kinh tế Việt Nam đang đối mặt với rủi ro “thụt lùi” trong tăng trưởng, và chính sách cần được thắt chặt để kiểm soát tốc độ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát được lạm phát. Điều này có nghĩa là cần có lãi suất cao hơn, cắt giảm tăng trưởng tín dụng, các biện pháp vĩ mô khôn ngoan để kiểm soát lĩnh vực tài sản (property sector).
Đồng tình với ý kiến này, GS Kenichi Ohno, chuyên gia kinh tế của Nhật Bản, người có hơn mười năm nghiên cứu về Việt Nam cảnh báo, Việt Nam cần chú ý đến dòng vốn lớn từ bên ngoài đổ vào. Với nền kinh tế nhỏ, dòng vốn ODA, FDI, kiều hối… lớn đổ vào rất dễ tạo nên sự bùng nổ về thị trường bất động sản, chứng khoán… Do đó, Chính phủ cần có các biện pháp trung hạn kiểm soát dòng vốn cho “tương xứng”.
Cụm từ “chất lượng quản trị” cũng đã được chủ tịch ADB lưu ý trong bài phát biểu khai mạc hội nghị thường niên ADB hôm 5.5, khi nói đến khả năng giải quyết các thách thức của châu Á. Theo ông Kuroda, nhiều nước đang phát triển trong khu vực châu Á vẫn bị xếp thứ hạng thấp trong quản trị, và điều này cần phải cải thiện để thúc đẩy tăng trưởng có chất lượng của khu vực. Chủ tịch ADB cũng đề cập đến thay đổi định hướng xuất khẩu là một động lực mới cho tăng trưởng của châu Á.
Và ông Lyons đã phân tích khá thú vị với trường hợp của Việt Nam. Thời điểm này, với đặc trưng là nền kinh tế ở giai đoạn đầu của phát triển so với các nước khác ở Đông Á, Việt Nam vẫn hưởng lợi từ định hướng xuất khẩu với lao động chi phí thấp.
Tuy nhiên, theo ông, về dài hạn, nếu Việt Nam chỉ dựa vào xuất khẩu làm động lực tăng trưởng thì độ mở của nền kinh tế sẽ khiến Việt Nam trở nên dễ bị tổn thương hơn, trước các cú sốc bên ngoài và phải phải trải qua tăng trưởng không ổn định.
Điều này có nghĩa là, Việt Nam, cũng như các nước châu Á khác, cần nhận thức rằng “một cỡ thì không vừa cho tất cả”. Tăng trưởng không chỉ dựa vào xuất khẩu, mà phải có sự cân bằng với nhu cầu trong nước. Điều đó sẽ giúp châu Á phát triển bền vững hơn.
Việt Anh

Giải Pháp Hạn Chế Nhập Siêu

Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24.2.2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đề ra yêu cầu “kiềm chế nhập siêu” (không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu). Thế nhưng, nhập siêu của 4 tháng đầu năm 2011 lên đến 4,89 tỉ USD chiếm 18,2% kim ngạch xuất khẩu. Cho đến nay, chưa có giải pháp cụ thể nào thực sự căn cơ, hiệu quả để chữa căn bệnh kinh niên này của nền kinh tế.
Làm sao để giảm nhập siêu?
SGTT.VN - Để hạn chế nhập siêu và kích thích tiêu dùng hàng nội địa, bộ Công thương đưa ra danh mục các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu. Danh mục gồm cả trăm loại hàng như động vật sống, sữa và các sản phẩm từ sữa, trứng chim và trứng gia cầm, mật ong tự nhiên; đồ chơi, dụng cụ dùng cho các trò chơi và thể thao; đồ nội thất;… một số mặt hàng xa xỉ như ôtô đua, chơi golf, xe thể thao; máy điện và thiết bị điện, đồng hồ đeo tay, đồng hồ bỏ túi, ngọc trai tự nhiên, đá quý hoặc kim loại quý; rượu bia, thuốc lá, mỹ phẩm...



Về lý thuyết, không khuyến khích các mặt hàng trên sẽ làm giảm nhập khẩu các mặt hàng đó và khuyến khích tiêu dùng các mặt hàng nội địa có thể thay thế. Thế nhưng, đó có phải là giải pháp căn bản và hiệu quả?
Theo tổng cục Thống kê, các nhóm mặt hàng nhập khẩu tăng mạnh của bốn tháng đầu năm 2011 so với cùng kỳ năm ngoái là: bông (219,5%); ôtô nguyên chiếc (175,2%); sợi dệt (168,9%); xăng dầu (164,2%); vải (142,1%); chất dẻo (139,6%); điện tử máy tính (129,3%).
Mức tăng nhập khẩu cao, nhưng nếu tổng kim ngạch không lớn thì sự đóng góp vào tăng nhập khẩu không cao. Nếu lấy kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng chia cho tổng kim ngạch nhập khẩu và nhân với tỷ lệ gia tăng nhập khẩu ta được một con số cho thấy sự “đóng góp” cho gia tăng nhập khẩu của nhóm mặt hàng đó trong bốn tháng qua: xăng dầu (7,23%); vải (2,79%); máy móc thiết bị (2,5%); chất dẻo (1,88%); bông (1,66%); điện tử máy tính (1,62%); sợi dệt (1,2%); sắt thép (1,05%); ôtô nguyên chiếc (0,95%)...
Lại còn phải so sánh giá trị xuất và nhập của nhóm mặt hàng đó trong cùng thời gian (bốn tháng qua) thì mới thấy nhóm nào đóng góp chính cho nhập siêu. Các nhóm chính là: dệt may giày dép (xuất 5.667 triệu USD – nhập bông vải sợi, nguyên phụ liệu 4.023 triệu USD ); dầu thô (2.458 – NA); thuỷ sản (1.604 – 126); càphê (1.389 – NA); gạo (1.281 – NA); máy móc thiết bị (1.103 – 4.681 ); điện tử máy tính (1.064 – 1.755 ); xăng dầu (629 – 3.583).
Có thể thấy dệt may – giày dép chắc chắn số xuất cao hơn số nguyên nhiên liệu nhập để làm hàng (nhưng đáng tiếc không cao hơn nhiều tức giá trị gia tăng thấp). Thuỷ sản, càphê, gạo cũng vậy (do đầu vào nhập khẩu là xăng dầu, phân bón không có số liệu (NA) nhưng chắc chắn thấp hơn giá trị xuất khẩu). Cho nên, các ngành này làm giảm nhập siêu chứ không đóng góp cho nhập siêu. Có thể thấy đóng góp cho nhập siêu lớn nhất là máy móc thiết bị (trên 3,5 tỉ USD), xăng dầu gần 2,954 tỉ USD, điện tử – máy tính 691 triệu USD (tổng nhập siêu của ba nhóm mặt hàng này là 7,223 tỉ USD).
Nhìn lại hơn mười năm qua thì sao?

Xe nguyên chiếc nhập qua cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Lê Minh Khuê

Mức độ nhập siêu/xuất khẩu trong giai đoạn 2000 – 2009 là rất lớn, có tới năm năm trên 20% (xem biểu đồ).
Có thể thấy vấn nạn nhập siêu nằm sâu trong nền kinh tế Việt Nam: nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, tạo ra ít giá trị gia tăng. Và chỉ có thể giải quyết vấn đề này bằng tái cơ cấu triệt để nền kinh tế. Cải tổ tận gốc rễ các doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hoá chúng, buộc chúng phải cạnh tranh, siết chặt ràng buộc ngân sách của chúng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, cải thiện hạ tầng cơ sở cứng (đường sá, cảng) và mềm (luật, thủ tục hành chính, củng cố lòng tin…)
Và việc ban hành các biện pháp hành chính như danh mục không khuyến khích như vừa rồi tuy cũng đáng hoan nghênh nhưng không căn bản và kết quả thực của bốn tháng vừa qua cũng minh chứng và các số liệu của các tháng tới chắc chắn cũng vậy. Sự cải thiện, nếu có, là không lớn và đấy là điều dễ hiểu. Nếu các biện pháp này được tính toán chi tiết hơn (tính đến tỷ trọng, tỷ lệ đóng góp vào nhập siêu của các nhóm hàng, hiệu ứng lan toả về nhập khẩu của các mặt hàng…), thì có thể mang lại sự cải thiện tốt hơn, cho dù vẫn không phải là giải pháp cơ bản.
Tồi tệ hơn là có những mặt hàng như xe nguyên chiếc thuộc diện không khuyến khích nhập nhưng kim ngạch nhập khẩu bốn tháng qua lại bằng 175,2% so với bốn tháng đầu năm ngoái, tức là tăng 75,2%. Thậm chí bộ Tài chính còn ra quy định tăng tiêu chuẩn mua xe mới cho các quan chức nhà nước cấp cao. Lời nói và việc làm thật bất nhất và điều đó khiến suy giảm lòng tin vào tính nhất quán của các chính sách nhà nước.
Phải chú tâm vào các biện pháp căn bản để giải quyết vấn đề nhập siêu cũng như các vấn đề bất cân đối kinh tế vĩ mô khác, chứ không phải bằng các phong trào, siết, cấm, kiểm tra. Tuy các biện pháp nhất thời đôi khi cũng cần thiết nhưng nếu làm thì cũng phải nhất quán chứ đừng nên để chính sách này đá chính sách kia như hạn chế nhập xe và nâng tiêu chuẩn sử dụng xe, trực tiếp và gián tiếp khuyến khích nhập thêm ôtô mới như vừa qua.
Nguyễn Quang A, Bùi Trinh, Vũ Ngọc Anh